Nguyên nhân cái chết của Gatsby là một viên đạn. Một án oan mà anh ngây thơ chuốc lấy. Nhưng đó chỉ là thứ yếu, cái đã cướp đi sinh mạng Gatsby chính là thứ niềm tin ảo tưởng về tình yêu, về sự hào nhoáng trong đời, là cái chấm xanh trên bờ hồ mà mỗi đêm anh ngắm Phẩm chất của Lão Hạc. – Là một người có tnóng lòng nhân hậu: Lão Hạc là fan dân cày ngay thật, hiền hậu, chất phác. Đến ngay lập tức với Cậu Vàng, lão cũng đối xử quan trọng đặc biệt, xuất sắc như so với đứa con của chính mình vậy. Lão cho nó ăn uống, bắt Nguyên nhân gây chết não. Có rất nhiều nguyên nhân và các yếu tố có thể dẫn đến tình trạng chết não. Dưới đây là những nguyên nhân và yếu tố gây chết não ở người: Uống quá ít nước. Không tập thể dục, vận động ít. Sử dụng quá nhiều rượu bia, các chất kích Giai thoại về cái chết của Nguyễn Trãi được truyền tụng qua sự tích Rắn báo oán rất nổi tiếng. Theo Nguyễn Đổng Chi ghi nhận và phân tích, đây là câu chuyện do tầng lớp Nho sĩ bịa đặt ra nhằm huyền thoại hóa tấn thảm kịch của Nguyễn Trãi, xóa mờ sự thật về thức sai về hành vi của bác sỹ trong việc thực hiện cái chết êm ả. Chúng ta có thể phân biệt nó với các hành vi sau: 2.2.1 Hành vi tự sát Hành vi của quyền đợc chết có thể đợc thực hiện bởi chính bác sỹ và chính bệnh nhân dới sự trợ giúp của bác sỹ. 4apS. Đức Thế Tôn đã dùng hết ân tình, nghiêm trang răn dạy. Từ một chú Sa-di nghịch ngợm, La-hầu-la dần ý thức được mình cần phải làm gì, nghiêm túc tu tập. Về sau, lúc nào La-hầu-la cũng tri túc, hiếu học, khiêm cung, hòa ái, siêng năng, cần mẫn, thủ phận… > Phật dạy La Hầu la cách tu tập và ứng xử Guồng quay của cuộc sống bắt buộc mọi cá thể từ cây cỏ cỏn con, các loại động và thực vật, con người hay thậm chí những thứ vô tri vô giác xung quanh ta đều phải phát triển. Ngọn cỏ xanh mởn buổi sớm mai còn oằn mình gánh duy nhất một hạt sương. Qua thời gian, nếu may mắn không bị “triệt tiêu”, thì cây cỏ sẽ phát triển thành cây lớn hơn. Các chú chó con dễ thương, tròn ú, lúc đi cứ lắc cái mông qua lại, nhìn rất dễ thương. Thế nhưng, chỉ qua một hoặc hai tuần được ăn uống đầy đủ thì nó lớn, chạy nhanh hơn, tiếng sủa cũng có phần dữ dằn hơn. Con người cũng như thế. Từ phôi thai còn trong bụng mẹ, ấp ủ trọn chín tháng mười ngày, ra được hình hài đỏ hỏn, cứ lớn theo năm tháng… Có đủ nhân duyên về ngài La-hầu-la, người viết đã cảm nhận được một vài bài học cần thiết cho mình, để trên con đường học đạo này, dần dà sẽ trưởng thành hơn. Vì sao Thái tử Tất Đạt Đa quyết định đặt tên con là "La Hầu La"? Kể ra những điều hiển nhiên như thế, để thấy chính bản thân chúng ta, mọi thứ xung quanh, đều phát triển qua từng sát-na một. Là một người đã liệng mình vào phép sống của người xuất gia, cũng cần biết học hỏi, nhìn ra những điều hay từ những bậc Thầy đi trước để noi theo thực tập. Có đủ nhân duyên về ngài La-hầu-la, người viết đã cảm nhận được một vài bài học cần thiết cho mình, để trên con đường học đạo này, dần dà sẽ trưởng thành hơn. Thứ nhất là chớ đặt nặng vấn đề ăn uống Mỗi khi cùng ngài Xá-lợi-phất đi khất thực, Phật tử chỉ dành thức ăn để cúng dường ngài Xá-lợi-phất, một phần là do đồ ăn cúng dường Ngài cũng như suy nghĩ là Sa-di nhỏ tuổi, nên thôi chuyện cúng dường tiếp cho La-hầu-la, để khi khác. Một lần, hai thầy trò đi khất thực, Xá-lợi-phất thì đủ một bát thức ăn, còn chú Sa-di chỉ được vài cái bánh nhỏ. Sau khi trì bình xong thì mạnh ai tự tìm gốc cây để ngồi ăn. Vô tình, Ngài không để ý đến Sa-di. La-hầu-la bị đói, mặt buồn rầu. Đức Phật biết được chuyện này, mới hỏi - Hôm nay nhìn con không được vui? - Bạch Thế Tôn! Người lớn cần thức ăn hay là người lớn không cần thức ăn? Theo con nghĩ, người lớn không cần ăn nhiều. Con nít đang tuổi ăn tuổi lớn, cần thức ăn hơn. - La-hầu-la con! Con xuất gia cầu tu giải thoát hay là vì ăn cho lớn? - Bạch, con xuất gia vì cầu tu giải thoát. - Tại sao con không hỏi pháp tu giải thoát để mà tu, lại đi hỏi chuyện ăn? - Tại con đói quá đi, không tu được. - Tại sao con lại bị đói? Người tu chúng ta nên ý thức và khép mình trong khuôn khổ già lam, tam thường bất túc, nghiêm chỉnh tu trì giới định tuệ, để trở thành một Tăng sĩ có ích cho Giáo hội nước nhà. Tôn giả La Hầu La - Sa di đầu tiên của đức Phật là ai? Lúc đó, La-hầu-la tường thuật lại câu chuyện từ đầu đến cuối. Và đức Phật dạy rằng, mình là người xuất gia, vào đây cầu đạo giải thoát thì không nên có tư tưởng ham ăn, thích ngủ như thế. Phải quán thân thể này như cục bướu, mụn ghẻ; ăn giống như xức thuốc cục bướu, cho nó dịu đi chứ không phải lấy ngon, lấy no. Thứ hai là tự chủ thân – khẩu – ý Có lần đi khất thực, đám con nít trang lứa chơi nghịch ngợm, lấy cải tung lên đầu, bỏ vào bát. Khi đó, La-hầu-la nổi giận, có ý nghĩ hoàn tục, trở về làm vua, sau này đem quân giết hết những đứa trẻ ở thành này để trả thù việc chúng nó dám khinh nhờn, khi dể mình. Biết vậy, đức Phật liền dạy La-hầu-la - Này con! Người mà tự nhiên chọc người ta nổi giận thì người đó đáng phỉ nhổ. Nhưng một vị Sa-môn để người ta chọc mà nổi giận, còn đáng bị phỉ nhổ hơn. Một vị Sa-môn phải tự chủ thân, tự chủ khẩu, tự chủ tâm mình. Người ta có thể chọc phá mình, nhưng mình có quyền giận hờn hoặc không. Người nổi sân, chính tâm niệm sân làm hại người đó. Chính những hành vi thiện ác khiến con sinh vào các cõi lành hoặc dữ. Đức Phật còn dạy thêm, người tu hành phải dùng trí tuệ và hạnh nhẫn nhục để đối trị việc bị người ta làm cho nổi sân. Thứ ba là không mê đắm sắc đẹp của thân hình Có lần, La-hầu-la khởi một ý nghĩ “Cha ta, đức Thế Tôn, có phong độ oai nghiêm, đáng quý trọng xiết bao! Dáng dấp của Ngài như thớt tượng chúa uy nghi, đĩnh đạc… như một chúa thiên nga bơi lội trên mặt hồ trong cung điện cõi Trời!...”. Nghĩ xong rồi, lại ngắm bản thân mình mà hãnh diện vô cùng “Ta cũng đẹp đẽ như đức Thế Tôn, cha ta. Thân hình cha ta đẹp, ta cũng như vậy!”. Và rồi đức Phật đọc được ý nghĩ không tốt đẹp đó, Ngài dạy “Này La-hầu-la! Bất luận thân hình đẹp hay xấu, cũng phải quán xét như vầy cái thân này không phải là ta, cái thân này không phải của ta, thân này không phải là tự ngã của ta…”. Đức Thế Tôn đã dùng hết ân tình, nghiêm trang răn dạy. Từ một chú Sa-di nghịch ngợm, La-hầu-la dần ý thức được mình cần phải làm gì, nghiêm túc tu tập. Về sau, lúc nào La-hầu-la cũng tri túc, hiếu học, khiêm cung, hòa ái, siêng năng, cần mẫn, thủ phận… Hành trình Chứng ngộ của La Hầu La và chế độ cúng dường Tịnh xá theo luật Phật Để thấy được rằng, nếu trong một ngày, chúng ta dành nhiều thời gian chăm chút cho tấm thân nhiều quá thì cần chấn chỉnh lại. Chẳng có gì để tô vẻ lên đó thật nhiều. Vừa đủ là được rồi, không cần mất thời gian tô son đánh phấn. Ngoài ba món quà nhỏ ở trên, còn một món quà quý báu khác mà đức Phật đã tặng cho La-hầu-la. Trong thời gian ở tinh xá, chú Sa-di nhỏ tuổi hết sức vui mình trong những trò quậy phá. Một hôm, Phật đến thăm La-hầu-la. Ngài đi chân không đến. Theo phong tục tôn kính, quý trọng bậc trưởng thượng và sự vệ sinh, thì La-hầu-la lấy cái chậu đất múc nước đến rửa chân cho Phật. Rửa chân xong, Phật hỏi La-hầu-la - Này La-hầu-la! Nước trong chậu này còn uống được không con? - Bạch Thế Tôn! Dơ lắm, không thể uống được. - Có thể dùng cái chậu này đựng nước rửa mặt được không con? - Dạ không, chậu dơ lắm vì đã đựng nước rửa chân. - Nếu nước không dùng để rửa mặt, rửa tay, vậy dùng để làm gì? - Dạ, chỉ có đổ bỏ đi thôi! - Khi đổ bỏ nước dơ đi thì cái chậu này có thể dùng để đựng cơm được không? - Dạ không, vì cái chậu đựng nước rửa chân ở trong nên dơ rồi. - Này La-hầu-la! Một cái bát dùng xài mọi việc, đựng cơm ăn được mà bây giờ không thể dùng được gì cả, như vậy thì cái bát này để làm gì? - Dạ, chỉ có bỏ đi, không sử dụng gì được cả, vì nó đã dơ rồi. - Như vậy, một con người không có tu tập, lại không biết hổ thẹn, thì y như cái chậu này, sẽ không còn xài được việc gì hết, chỉ có thể bỏ đi mà thôi. Vậy con có muốn thành cái chậu dơ để người ta bỏ đi hay không? - Dạ, con không muốn thành cái chậu bỏ đi vô dụng như vậy, mà muốn thành cái chậu được người ta nâng niu, sử dụng được. - La-hầu-la, là người xuất gia mà con không giữ oai nghi, không tu giới định tuệ thanh tịnh, lại chứa đầy cấu uế không chân thật, thức ăn đạo lý làm sao để vào tâm của con? Đức Thế Tôn đã dùng hết ân tình, nghiêm trang răn dạy. Từ một chú Sa-di nghịch ngợm, La-hầu-la dần ý thức được mình cần phải làm gì, nghiêm túc tu tập. Về sau, lúc nào La-hầu-la cũng tri túc, hiếu học, khiêm cung, hòa ái, siêng năng, cần mẫn, thủ phận… Qua những “món quà” này, người tu chúng ta nên ý thức và khép mình trong khuôn khổ già lam, tam thường bất túc, nghiêm chỉnh tu trì giới định tuệ, để trở thành một Tăng sĩ có ích cho Giáo hội nước nhà. > Xem thêm video Tác hại của lời nói dối Tôn giả La-hỗ-la chính là La-hầu-la, con của thái tử Tất-đạt-đa. Ngài là vị La-hán thứ mười một trong mười sáu vị La-hán. Ngài cùng một ngàn một trăm đệ tử trú tại Tất-lợi-dương-cù châu. Trong “Thập đại đệ tử Phật”, ngài được xưng tán là vị Mật hạnh đệ nhất. Về cuộc đời Ngài, chúng tôi đã giới thiệu rất nhiều trong quyển “Thập đại đệ tử Phật” của Từ ân Phật giáo nhi đồng tùng thư, ở đây chỉ nói thêm vài mẫu chuyện thú vị khác. Ba chữ “La-hầu-la” hán dịch là Phú Chướng. Vì sao Đức Phật đặt cho ngài tên này? Câu chuyện được tương truyền như sau. Đức Phật dạy La Hầu La về tầm quan trọng của hạnh chân thật qua ví dụ cái gương Khi chưa ra đời, ngài ở trong bụng vương phi Da-du-đà-la suốt sáu năm. Thông thường, trẻ con ở trong bụng mẹ lâu nhất cũng chỉ có mười tháng, thế mà ngài lại ở đến sáu năm, thật kỳ lạ! Nguyên nhân là vì sao? Chuyện kể rằng vì tiền kiếp của ngài lúc còn là một đứa trẻ ngây thơ chưa biết gì, có lần nghịch ngợm lấy đá và bùn lấp một cái hang chuột khiến lũ chuột trong hang khốn đốn sáu ngày không ăn uống gì cả. Do đó, đời này ngài mắc quả báo ở trong bụng mẹ sáu năm. Khi ngài lên chín tuổi, đức Phật sai Tôn giả Mục-kiền-liên, vị đại đệ tử thần thông đệ nhất, về vương cung dẫn ngài đến sống bên mình; rồi bảo Tôn giả Xá-lợi-phất thế độ cho ngài xuất gia. Vì vậy, trong sử Phật giáo, ngài là vị tiểu Sa-di đầu tiên. Thời làm Sa-di, vì nghĩ mình là thái tử một nước nên ban đầu ngài chưa thoát khỏi tập quán xấu của thời quí tộc, đã bướng bỉnh lại còn hay gây sự phá rối, không chịu dụng tâm tinh tấn tu hành đàng hoàng. Một hôm, đức Phật không chịu được bèn gọi ngài đến và kể cho ngài nghe câu chuyện - Thuở quá khứ, có một vị vua nuôi một con voi dũng mãnh thiện chiến. Mỗi lần giao chiến với kẻ địch không lần nào nó không đánh thắng. Vua rất thương mến voi nên mặc cho toàn thân nó giáp sắt rất dày, tai, chân cũng bịt sắt, nhưng riêng vòi thì không. Vòi của nó là phần mềm nhất toàn thân, nếu không cẩn thận để bị trúng tên hay bị chém thì sẽ tử vong. Vì thế, để bảo vệ mạng sống mỗi lần tác chiến voi đều đặc biệt chú ý đến vòi. - Này La-hầu-la, con cũng nên bắt chước như con voi bảo vệ cái vòi vậy, phải hết sức thận trọng trong lời nói, việc làm. Con thấy đó, đời trước con nhỏ dại nghịch ngợm lấp hang chuột mà bị mắc quả báo ở trong bụng mẹ sáu năm không thấy ánh sáng. Nếu như bây giờ con cũng như vậy, suốt ngày chỉ biết ăn chơi lêu lỏng quậy phá làm nhiều việc xấu, không chịu nỗ lực tinh tấn tu tập, con không sợ hậu quả sẽ là một chuỗi ngày dài bất hạnh sao?! La-hầu-la nghe lời Phật dạy tỉnh ngộ. Từ đó, ngài hạ thủ công phu dụng công tu tập không dám biếng nhác nữa. Phát tâm dụng công tu tập, La-hầu-la thể hiện trọn vẹn những mỹ đức khiêm cung nhẫn nhục, không thích tranh cãi hơn thua nên phòng của ngài thường bị người khác chiếm ở; lắm lúc ngài phải vào nhà xí ngủ qua đêm. Một hôm, vì truyền đạo ngài bị tín đồ ngoại đạo đánh vỡ đầu. Thế nhưng, ngài vẫn không một lời than oán, lặng lẽ đến bờ suối rửa sạch máu dơ rồi dùng khăn băng vết thương lại. Có lần, có một tín chủ cúng cho ngài một tịnh thất làm nơi tu tập tọa thiền, giảng kinh thuyết pháp. Nhưng chẳng bao lâu tín chủ đó đòi lại rồi đem cúng cho người khác, ngài vẫn bình thản dọn ra khỏi phòng không chút giận hờn. Như thế đủ chứng minh hạnh nhẫn nhục của ngài thật sự là nhẫn nhục Ba-la-mật. Năm hai mươi tuổi, ngài chứng quả A-la-hán. Tuy đã chứng quả nhưng sống trong chúng, ngài không thích phô trương mà chỉ lặng lẽ tu tập, lặng lẽ hoằng pháp nên được đức Phật ặc biệt chọn vào hàng mười sáu vị La-hán lưu lại nhân gian. Mấy trăm năm sau, vua Thiết-thưởng-ca nước Câu-thi-na-la không tin Phật pháp đến độ đập phá chùa chiền, thiêu kinh hủy tượng, số người xuất gia ngày càng giảm nọ, có một vị Hòa thượng già chống gậy ôm bát vào thành đến từng nhà khất thực. Nhưng cả thành chẳng ai để ý tới, khó khăn lắm ngài mới gặp được một gia đình tin Phật. Họ cung kính cúng cho ngài một bát cháo nóng. Sau khi hớp xong miếng cháo, ngài thở dài. Vị thí chủ thấy vậy liền hỏi- Thưa ngài! cháo không ngon sao? - Ồ không, thời Phật pháp suy vi mà có một bát cháo để ăn là tốt lắm rồi. - Không phải thế, vậy sao ngài thở dài? - À, tôi chợt nhớ lại thuở xưa, lúc đức Thế Tôn còn tại thế, tôi thường ôm bát theo Ngài đến đây. Thời ấy, nhà nào cũng tin Phật, mọi người tranh nhau cúng dường, nhưng bây giờ thì khác hẳn, người tin Phật ngày càng ít, thật là chúng sanh phước mỏng nghiệp dày!. Vị Hòa thượng già không ngăn được nước mắt. Người thí chủ thấy lạ hỏi - Thưa hòa thượng! Ngài nói chính mắt ngài thấy đức Phật và từng ôm bát theo Ngài sao? - úng vậy! - Xin hỏi ngài là ai? - Này thí chủ, người có từng nghe nói La-hầu-la con của thái tử Tất-đạt-đa không? - Dạ có nghe. - Tôi chính là La-hầu-la. Suốt mấy trăm năm nay, tôi luôn dốc sức hoằng dương Phật pháp. – Nói xong, Hòa thượng biến mất. Chuyện này được ngài Huyền Trang ghi lại trong tác phẩm nổi tiếng “ại ường Tây Vực ký”. iều đó chứng tỏ việc ngài La-hầu-la lưu lại nhân gian là không chút ngụy biện. Đại Đường Tây Vực ký, thường được gọi tắt là Tây Vực ký, là một tập ký kể về hành trình 19 năm của nhà sư Huyền Trang xuất phát Trường An Trung Quốc du hành qua khu vực Tây Vực trong lịch sử Trung Quốc. Nhà sư đã đi qua Con đường tơ lụa của Tân Cương ngày nay ở phía tây bắc Trung Quốc, cũng như các khu vực lân cận ở Trung Á và Nam Trung Quốc. Ngoài các địa điểm này của Trung Quốc, Huyền Trang cũng đi vòng quanh Ấn Độ, đến tận phía nam như Kancheepuram. Chuyến du hành của Huyền Trang không chỉ giữ một vị trí quan trọng trong các nghiên cứu xuyên văn hóa của Trung Quốc và Ấn Độ, mà cả các nghiên cứu xuyên văn hóa trên toàn cầu. Tập ký vừa cung cấp những ghi chép trên đường hành hương tôn giáo của Huyền Trang, vừa ghi nhận các mô tả về các địa phương mà ông đi qua trong giai đoạn lịch sử thời Đường. Tập ký được biên soạn vào năm 646, mô tả các chuyến đi được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 626 đến năm 645. Biện Cơ, một đệ tử của Pháp sư Huyền Trang, đã dành hơn một năm để ghi chép và hiệu chỉnh tập sách từ những lời kể của thầy mình. Tự cổ chí kim, con người luôn khao khát và tìm cầu mọi cách để được trường sinh bất tử. Thế nhưng, lưới vô thường sanh, lão, bệnh, tử nào có chừa một ai? Bất tử có chăng là những gì mà con người đã cống hiến hết mình cho cuộc đời, cho nhân sinh bằng những phẩm chất và hành động cao quý để rồi sau khi nhắm mắt xuôi tay được thế gian ca tụng, lưu truyền mãi về sau. Quả thật là chân bất tử của một kiếp người và Tăng đoàn Phật giáo cũng đã có những con người bất tử như thế. Một trong những tấm gương đó chính là tôn giả Rāhula La-hầu-la. Tôn giả Rāhula La-hầu-la, một vị A-la-hán trẻ tuổi nhất trong Thập đại đệ tử Phật. Ngài là người rất tự giác, mặc tịnh và trầm tư. Cuộc đời của tôn giả Rāhula để lại cho chúng ta nhiều bài học về phẩm hạnh cao quý về quá trình trau dồi giới đức và trí tuệ. Mật hạnh của Ngài không những là mẫu người lý tưởng cho Tăng đoàn thời Phật còn tại thế mà cho đến ngày nay, Tăng Ni trẻ trong thời đại công nghệ số nói riêng và những ai quan tâm đến một đời sống phạm hạnh, thanh tịnh nói chung cần lấy đó làm tấm gương để học tập và hành trì. MẬT HẠNH TÔN GIẢ Rāhula La-hầu-la Kinh điển ghi lại rằng bảy vị Phật trong quá khứ đều có con khi còn ở đời sống thế gian như “Đức Phật Tỳ-bà-thi có con tên Phương Ưng. Phật Thi-khí có con tên Vô Lượng. Tỳ-xá-bà có con tên Diệu Giác. Câu-lưu-tôn có con tên Thượng Thắng. Câu-na-hàm có con tên Đạo Sư. Ca-diếp có con tên Tập Quân. Ta nay có con tên là La-hầu-la” [1]. Tôn giả Rāhula sinh ra và lớn lên tại kinh đô Kapilavatthu của tộc Sākya thuộc vương quốc Kosala, trên vùng biên giới Nepal và Bắc Ấn; là cháu nội của của vua Suddhodana Tịnh Phạn dòng dõi Gotama và hoàng hậu Mahāmāyā Ma Da. Tôn giả là đứa con trai duy nhất của thái tử Siddhattha Tất-đạt-đa và công chúa Yasodharā Da-du-đà-la. Ảnh Tôn giả Rāhula sinh ra và lớn lên tại kinh đô Kapilavatthu Ca-tỳ-la-vệ của tộc Sākya Thích-ca thuộc vương quốc Kosala Kiều-tát-la, trên vùng biên giới Nepal và Bắc Ấn; là cháu nội của của vua Suddhodana Tịnh Phạn dòng dõi Gotama và hoàng hậu Mahāmāyā Ma Da. Tôn giả là con trai duy nhất của thái tử Siddhattha Tất-đạt-đa và công chúa Yasodharā Da-du-đà-la. Sử liệu Nam truyền Phật giáo ghi nhận Rāhula xuất gia năm lên 7 tuổi, từ vị Sa di nhỏ tuổi nhất trải qua 13 năm thực tập lời Phật dạy đến năm 20 tuổi cầu thọ Cụ túc giới. Ở lứa tuổi ấy, những phẩm hạnh đáng kính của Tôn giả Rāhula được Đức Phật tán thán “Trong các vị đệ tử Tỳ-kheo của Ta ưa thích học tập, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Rāhula” [2]. Điều này được thể hiện qua hình ảnh Sa-di Rāhula luôn có thói quen dậy sớm vào buổi sáng nhặt lên một nắm cát và tự nhủ “Cầu mong cho tôi có được những lời giáo giới từ Đức Thế Tôn và thầy tế độ của tôi nhiều như những hạt cát trong tay của tôi” [3]. Đây là một trong những mật hạnh cao quý của Tôn giả. Chính khát khao này sẽ xây dựng cho Rāhula thói quen sống xứng đáng với người cha đại trí của mình và được người đời sau tôn kính. Chuyện tiền thân Tipallatthamiga kể về con nai cháu với ba cử chỉ đã học từ những đức tính tốt đẹp, khôn ngoan của loài nai đặc biệt là của nai cậu tiền thân Phật và nai mẹ Upplavannā, cứu sống nó khỏi sự truy sát từ người thợ săn. Con nai cháu đó chính là tiền thân của Tôn giả Rāhula. Đức Thế Tôn một lần nữa khẳng định “Rāhula không phải nay mới ham học, thuở trước cũng đã ham học như vậy” [4]. Với đức tính tốt đẹp như vậy, lại có quan hệ huyết thống đối với Đức Thế Tôn, nếu là những vị còn tâm tánh phàm phu chắc hẳn sẽ thường dựa dẫm, ỷ lại vào Đức Phật, nhưng Rāhula không như vậy. Trong số ba bài kinh tiêu biểu cho việc giáo giới Rāhula, chính Đức Phật đã hai lần đích thân gặp Tôn giả để thăm và giảng dạy. Điều này cho thấy mật hạnh của Rāhula rất đáng ngưỡng mộ, dù tuổi còn rất nhỏ. Rāhula không bao giờ bày tỏ thái độ bất kính đối với Thế Tôn cũng như các vị trưởng lão trong Tăng đoàn. Kinh tạng còn ghi lại câu trả lời của Rāhula với Đức Phật “Thường chung sống người hiền, Con không có khinh miệt Người cầm đuốc loài người Thường được con tôn trọng” [5]. Mật hạnh của Rāhula còn được Đức Thế Tôn ấn chứng trong pháp hội Long Hoa “Hạnh kín của Rāhula chỉ Ta biết mà thôi” [6]. Kinh tạng còn ghi lại câu trả lời của Rāhula với Đức Phật “Thường chung sống người hiền/ Con không có khinh miệt/ Người cầm đuốc loài người/ Thường được con tôn trọng”. Ảnh Tranh Ấn Độ Kinh Ambalathika Rahulovada ghi lại sự kiện Đức Phật đến thăm Rāhula khi Tôn giả đang ở rừng Ambala. Tôn giả sắp đặt chỗ ngồi và nước rửa chân để hầu cận Đức Thế Tôn. Sau khi rửa chân, Đức Phật đã để lại chút ít nước trong chậu và dụ cho “Sa môn hạnh của người nào biết nói láo, không có tàm quý” [7]. Kế đó, Ngài đổ nước đi, lật úp chậu rồi lại lật ngửa chậu lên. Hình ảnh ấy ví dụ cho Sa-môn hạnh trống rỗng của những người biết nói láo, không có tàm quý vậy. Sử dụng hình ảnh chậu nước để giáo giới là một phương pháp dạy dỗ rất khéo léo của Đức Thế Tôn đối với lứa tuổi như Rāhula lúc bấy giờ. Tính chân thật là điều đầu tiên Đức Phật muốn dạy Rāhula trong những ngày chập chững bước vào sinh hoạt Tăng đoàn. Bởi lẽ, người thế gian còn lấy sự thật thà, ngay thẳng, không lừa gạt mình, không dối gạt người làm quy chuẩn cho đạo đức ứng xử để hình thành nên nhân cách con người. Người thực hành lời Phật dạy càng phải lấy tính chân thật làm nền tảng căn bản cho tự thân. Chính đức tính ấy sẽ làm cho đời sống phạm hạnh được thăng hoa. Đức Phật tiếp tục sử dụng hình ảnh “Một con voi của vua, có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường có dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi nhưng bảo vệ cái ngà… Cũng vậy, này Rāhula, đối với ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm” [8]. Xuất thân từ hoàng cung xứ Ấn Độ xưa, hình ảnh con voi không còn gì xa lạ đối với Rāhula. Qua hình ảnh voi, Đức Thế Tôn muốn răn dạy Tôn giả rằng người thế gian cũng không được nói dối gạt người, còn với người đã từ bỏ gia đình thì việc chơi đùa sẽ không đưa đến một lợi ích tốt đẹp nào cho con đường tu tập, huống chi đến việc nói láo để mà giỡn cợt thì quả thật là điều không nên làm. Cuối cùng, Đức Phật dạy cho tôn giả Rāhula quán xét nội tâm, thấy việc nào đưa đến khổ đau, hãy từ bỏ và vững niềm tin mà hành động, không chỉ bắt tay vào làm, mà còn quán chiếu trong khi đang và sau khi làm, thông qua hình ảnh cái gương “Này Rāhula, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp… hãy hành khẩu nghiệp… hãy hành ý nghiệp” [9]. Cái gương ở đây không dùng để soi mặt, mà soi chiếu tâm hồn của chính mình cho phù hợp với nếp sống đạo đức và lời Phật dạy để trừ diệt mọi ý niệm, lời nói, hành vi bất thiện nhằm đem lại lợi ích cho mình và người. Bởi nếu tổn hại đến chính mình và người khác là chánh nhân của bất thiện pháp đưa đến đọa xứ khổ đau. Vì thế, bài pháp này còn được xem là đường lối phản tỉnh của tất cả Sa-môn chứ không phải của Đức Phật giảng dạy dành riêng cho Tôn giả. Trong bước chân đầu đời thực hành phạm hạnh, đây quả thật là những lời giáo huấn tâm niệm vô cùng tuyệt vời, đúng lúc, đúng thời, làm nền tảng để Rāhula hoàn thiện bản thân mình. Đây cũng là hàng rào giúp Tôn giả kiện toàn về giới hạnh, không vi phạm vào những quy định mà Đức Phật đề ra trong Tăng đoàn. Trong “Đại kinh Giáo Giới Rāhula” Đức Thế Tôn nhân buổi đi khất thực tại Sāvatthi Xá-vệ cùng Tôn giả Rāhula khi ấy đã được 18 tuổi, đã dạy Rāhula đối với Năm uẩn, Bốn đại… “Phải quán sát như thật với chánh trí tuệ cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta” [10]. Tôn giả quyết tâm nỗ lực tu tập, thực hành các thiện pháp ngõ hầu thăng tiến trên con đường tâm linh. Năm Tôn giả hai mươi tuổi, khi được truyền thọ Cụ túc giới sau 13 năm gia nhập Tăng đoàn, vào mùa an cư đầu tiên của Tỳ-kheo Rāhula, Đức Thế Tôn quán chiếu thấy Tôn giả đã thuần thục các pháp, trình độ tâm linh đã chín muồi cần được huấn luyện để đoạn tận các lậu hoặc. Đây là lần thứ hai, Đức Phật đi tìm Rāhula, gọi đến Andhavana giáo giới. Đức Thế Tôn dạy con mắt là vô thường, do vô thường chịu sự biến hoại, thời không có hợp lý khi quán cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi. Cũng như vậy, đối với sự quán chiếu về năm căn và năm trần, tất cả đều vô thường, khổ và vô ngã. “Vị đa văn thánh đệ tử là người nhìn thấy như vậy sẽ sanh khởi sự yếm ly, ly tham, do ly tham vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát là sự hiểu biết Ta đã được giải thoát. Và vị ấy biết Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa” [11]. Do huân tập căn lành từ vô lượng kiếp cùng với sự nỗ lực tu tập miên mật, không giải đãi, từ ngày gia nhập Tăng đoàn, qua bài thuyết giảng của Thế Tôn thì Rāhula được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không chấp thủ. Rāhula thành tựu được quả vị A-la-hán lúc 20 tuổi và trở thành vị A La Hán trẻ nhất trong Giáo hội. Những bài Kinh được Đức Thế Tôn giáo giới cho Tôn giả Rāhula chỉ mang con số khá khiêm tốn với các bài Kinh tiêu biểu như Ambalathika Rahulovada Sutta Kinh Giáo giới Rāhula ở rừng Ambala M,i,61; Maha Rahulovada Sutta Đại Kinh Giáo giới Rāhula M,i,62; Cula Rahulovada Sutta Tiểu Kinh Giáo giới Rāhula M,ii,147 cùng một vài bài kinh nói về tiến trình quán chiếu các pháp trong Tương Ưng bộ kinh. Tuy nhiên, nếu hệ thống lại theo tiến trình tu tập của Tam vô lậu học thì vào những năm đầu trở thành Sa-di Rāhula, Đức Thế Tôn đã dạy Tôn giả về đạo đức của một người xuất gia đó chính là con đường thành tựu Giới uẩn. Năm 18 tuổi, Ngài lại dạy Tôn giả về phương pháp thực tập thiền quán, con đường thành tựu Định uẩn. Cuối cùng, 20 tuổi được truyền thọ Cụ túc giới, sau khi quán chiếu các thiện pháp đã thành tựu thì Đức Phật dạy Rāhula về con đường đưa đến thành tựu Tuệ uẩn, chứng đắc đạo quả. Ngoài ra, mật hạnh dễ thương kín đáo, vâng lời và vô cùng cung kính với các bậc Tỳ-kheo của Rāhula còn được minh chứng trong Jātaka 16 Chuyện tiền thân Chuyện con nai có ba cử chỉ. “Thỉnh thoảng, các Tỳ kheo từ xa đến, vì mục đích thử thách, thường quăng bên ngoài cái các chổi hay một ít rác, chờ khi tôn giả đến và hỏi – Hiền giả, ai quăng đồ rác này?” Nếu không phải là một vị thật tu, thật học, chắc hẳn sẽ tìm mọi cách chứng minh cho sự trong sạch của mình hay làm ngơ bỏ đi để tránh gây phiền phức hoặc thưa con không biết việc này. Trái lại, “Tôn giả thường dọn rác ấy đi, im lặng, khiêm tốn xin lỗi và sau khi được tha lỗi mới đi” [12]. Với phương cách ứng xử ấy, Rāhula càng cho thấy được hạnh nhẫn nhục, khiêm nhường đã được thành tựu một cách sâu kín trong thân tâm của Tôn giả. Hơn thế nữa, khi Đức Phật quy định Tỳ-kheo nào nằm ngủ chung với người chưa thọ đại giới là phạm tội Pācittiya Ưng đối trị. Các vị Tỳ-kheo đã chỉ dạy Rāhula hãy tìm chỗ ở của mình vì trước đấy Tôn giả ngủ cùng với các vị khác. Rāhula không còn nơi để ngủ vì là người nhỏ nhất trong Tăng đoàn nhưng “Rāhula không đi đến Thế Tôn là phụ thân của mình, cũng không đi đến Sāriputta là vị tướng quân chánh pháp cũng là Giáo thọ sự của mình, cũng không đi đến Moggallāna là bậc Sư trưởng của mình, lại đi vào phòng vệ sinh của Thế Tôn, như thể đi vào cung điện Phạm thiên và trú ở đấy” [13]. Tranh Thangka Rāhula. Ảnh Lựa chọn nơi ở ấy Rāhula không vì cảnh sang trọng được làm bằng đất thơm, mà chính vì kính trọng lời khuyên bảo của các bậc trưởng thượng, vì muốn học tập nên trú chỗ ấy. Khi Phật hỏi, Tôn giả từ tốn bạch rằng “Vì không có chỗ, vì sợ phạm tội, không cho con chỗ ở; vì nghĩ rằng đây là chỗ không va chạm một ai, nên con nằm ở đây” [14]. Câu trả lời của Rāhula không có tâm ỷ lại là con của Thế Tôn, không chống đối, trách oán hay sân giận với các Tỳ kheo. Chính việc làm này đã khiến Đức Phật xúc động mạnh mẽ trong chánh pháp. “Này Xá-lợi-phất, nếu các ông vứt bỏ La-hầu-la như vậy, thì đối với các lớp trẻ mới xuất gia, có gì các ông không làm được? Nếu sự việc là vậy, những ai xuất gia trong giáo pháp này sẽ không ở lại. Bắt đầu từ hôm nay, các ông được phép cho người chưa thọ đại giới ở chung một hay hai ngày. Đến ngày thứ ba, cho họ ở ngoài, sau khi biết chỗ ở của họ” [15]. Tất cả những điều trên đã minh chứng cho đức hạnh kín đáo, thành tựu các oai nghi tế hạnh cũng như sự quyết tâm tu tập đạt đến tâm giải thoát và tuệ giải thoát của vị thánh Rāhula. HIỆN TRẠNG VÀ TƯƠNG LAI CỦA ĐỜI SỐNG PHẠM HẠNH Kinh Tương Ưng bộ, Đức Phật dạy về nguyên nhân mất đi diệu pháp rằng “Ở đây, này Kassapa, các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống không tôn kính, không tùy thuận bậc Đạo sư… không tùy thuận Chánh pháp… không tùy thuận chúng Tăng… không tùy thuận học giới… không tùy thuận đối với thiền định. Này Kassapa, chính những thối pháp này đưa đến sự hỗn loạn, sự biến mất của diệu pháp” [16]. Vì thế, những vấn đề được trình bày ở trên là các chuẩn mực mà Đức Phật đưa ra để làm sống dậy đời sống Tăng đoàn. Cho dù, đạo Phật là đạo của từ bi, trí tuệ, vô ngã, vị tha, nhưng không phải ai cũng có thể xuất gia được, cũng không phải ai cũng có thể tu tập và chứng đạo được. Thế nên, Luật Ma Ha Tăng Kỳ đưa ra 32 điều mà một người nếu phạm dù chỉ là một điều ví như lừa đảo, phạm ngũ nghịch, mù điếc, câm què… thì cũng không thể xuất gia được [17]. Ở đây, Thế Tôn không phải là không thể hiện tinh thần từ bi hay bất bình đẳng mà vì Ngài không muốn giáo pháp bị huỷ hoại bởi những người không đủ khả năng hay không đủ tư chất kham nhẫn mà hành trì những lời dạy thậm thâm vi diệu ấy. Thông qua những mật hạnh, phẩm chất của tôn giả Rāhula, người viết cho rằng Đây là cơ hội để tất cả những ai tự xem mình là Sứ giả Như Lai, đặc biệt là Tăng Ni trẻ cần phải quán xét sự thực hành phạm hạnh của bản thân. Cố gắng phát huy điểm tích cực, sửa đổi những mặt chưa được, chưa tốt để chuyển hóa thân tâm trong chánh pháp. Sau đó, dùng “thân” giáo để giáo hóa chúng sanh như tấm gương của Tôn giả Rāhula đã từng làm, đây cũng là cách vừa an toàn, vừa hiệu quả cho những ai muốn báo ân đức của Đức Từ phụ và tha thiết đoạn sanh tử luân hồi. Hay nói cách khác, mật hạnh của Tôn giả Rāhula là tấm gương sống, mẫu người lý tưởng cho những ai mong muốn vẹn toàn giữa đạo và đời SC. Thích Nữ Hạnh Liên Chú thích [1] Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh Tập I, Kinh Trường A Hàm, Taiwan, 2000, [2] Minh Châu dịch, Tăng Chi Bộ Kinh tập I, Nxb Tôn giáo, 2018, [3] Tỳ kheo Minh Huệ dịch, Đại Phật Sử VI, Nxb Hồng Đức, 2019, [4] Minh Châu dịch, Tiểu Bộ Kinh tập III, Nxb Tôn giáo, 2018, [5] Minh Châu dịch, Tiểu Bộ Kinh tập I, Nxb Tôn giáo, 2018, [6] HT Thích Trí Tịnh dịch, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Nxb Tôn Giáo, 2011, [7] HT Thích Minh Châu dịch, Trung Bộ Kinh tập I, Nxb Tôn giáo, 2018, [8] Sđd, [9] Sđd, [10] HT Thích Minh Châu dịch, Trung Bộ Kinh tập I, Nxb Tôn giáo, 2018, [11] Sđd, [12] HT Thích Minh Châu dịch, Tiểu Bộ Kinh tập III, Nxb Tôn giáo, 2018, [13 Sđd, [14] Sđd, [15]Sđd, [16] HT. Thích Minh Châu dịch, Tương Ưng Bộ Kinh, Nxb Tôn giáo, 2018, [17] Thích Trung Hữu, Đừng Ham Hành Đạo Sớm. Bài đăng trên báo Giác Ngộ, số 1020, 11/10/2019, TÔN GIẢ LA HẦU LA ĐỆ NHẤT MẬT HẠNHPhần 2 Đức La Hầu La là người con duy nhất của đức Phật khi Ngài chưa xuất gia. Con đường tu tập và chứng ngộ của đức La Hầu La khi là con Phật có sung sướng thuận lợi hơn người thường không hay ngược lại? Mời quý vị theo đọc loạt truyện về hạnh của ngài La Hầu La Đệ Nhất Mật Sa di Đầu tiên Đức Thế Tôn ở tạm trong hoàng cung vài ngày, và phen này, trong cung điện vắng bóng cung nữ, chẳng có yến tiệc rượu chè, chỉ có một ngàn vị Tỳ kheo theo Phật. Cung điện hoàng gia tạm thời trở thành Tăng phòng tinh xá. Đức Thế Tôn biết các thầy Tỳ-kheo sơ học, nếu ở lâu trong vương cung, dễ sanh tâm so sánh với lối sống đạm bạc của Tăng đoàn, nên chỉ vài ngày sau, Ngài đưa đại chúng về trụ tại rừng Ni-câu-đà ở cách thành Ca-tỳ-la không ở Ni-câu-đà, nhưng đức Thế Tôn cũng thường về hoàng cung trì bát khất thực hoặc thuyết pháp. Cậu bé La-hầu-la, ngây thơ một cách dễ thương, thân mật nói với Ngài– Phật-đà! Con rất thích được ở chung với nói ấy đã biểu lộ phụ tử tình thâm, đức Thế Tôn cũng trả lời– Rồi cũng có ngày ta cho con sống gần bên nói câu ấy không lâu, quả nhiên La-hầu-la xuất gia theo luôn bên Ngài. Nguyên nhân là vì Da-du-đà-la thường khuyến khích La-hầu-la thêm hoạt bát lanh lẹ, mặc quần áo đẹp cho và bảo con rằng– Con hãy theo phụ thân xin tài sản đi, cha con có những châu báu mà chúng ta chưa được thấy!Đức Phật cho La Hầu La gia tài của mình không phải là tài sản thế gian mà là tài sản xuất thế gian Ngài thu nhận La Hầu La vào tăng đoàn Vua Tịnh Phan Buồn khổ sau đó Vua yêu cầu Đức Phật không cho Phép giới tử xuất gia mà cha mẹ chưa đồng ý trong trường hợp dưới 18 tuổi. Đức Phật nhận đó, La-hầu-la thường chạy theo đức Phật nói– Phật-đà! Cho con gia tài!Một hôm, đang lúc đức Thế Tôn khất thực trở về rừng Ni-câu-đà, Ngài đi trước, La-hầu-la chạy theo sau, chẳng có ai ngăn cản cậu, cậu cứ lẽo đẽo theo sau Phật kêu– Cho con gia tài a! Cho con gia tài a!Da-du-đà-la nhìn thấy đứa con duy nhất đi sau lưng Phật, rất sợ La-hầu-la bị đưa xuất gia, bất giác rơi nước Phật về đến rừng, gọi Xá-lợi-phất đến nói– Xá-lợi-phất! Cậu bé La-hầu-la cứ theo ta xin gia tài, ta không muốn cho y thứ tài sản và hạnh phúc mong manh, ta muốn cho y bảo bối vô giá. Này Xá-lợi-phất! Ông hãy cho y xuất gia, làm Sa-di đầu tiên của Tăng đoàn!Đức Phật nói xong, gọi Mục-kiền-liên cạo tóc cho cậu bé, dạy lễ bái Xá-lợi-phất làm thầy, truyền giới Sa-di cho La-hầu-la, đó là khởi nguyên của chúng vốn là tất cả hoài bảo của bà Da-du đà-la, bây giờ đã gia nhập Tăng đoàn, đó cũng là dụng ý của đức Phật. Khi còn là Thái tử hạ sanh La-hầu-la, Ngài đã rời bỏ ngôi vị ra đi và đắc thành Phật quả, thì vương vị mai sau của nước Ca-tỳ-la-vệ nhất định sẽ về tay chủ trương của đức Phật, để cho một đứa bé con làm chủ cả bàn dân thiên hạ là chuyện không thể được, cho nên thừa cơ hội, Ngài phương tiện cho con xuất xuất gia là một điều đau buồn cho bà Da-du lúc đó chưa ngộ đạo. Cậu bé là nguồn hy vọng của bà, bà thương quý cậu hơn cả thân mình. Thái tử đã ra đi, bây giờ con yêu cũng lìa bỏ, đối với bà thật là trời sầu đất ta cũng có thể thấu cảm với bà Da-du khi trách đức Phật nhẫn tâm, để cho bà chịu nhiều đau khổ quá đáng. Nhưng chơn lý và nhân tình là hai lối trái ngược nhau rất xa, phải hàng phục được tình cảm yếu đuối của thế nhân, mới khế hợp được với chơn lý pháp tánh Tuổi trẻ Nghịch ngợm, mẹ đi xuất giaLa-hầu-la xuất gia làm Sa-di rồi, vương phi Dadu cũng đành chịu, không biết làm sao hơn. Vua Tịnh Phạn thông cảm cho nỗi khổ tâm của bà, bèn đến tìm Phật, yêu cầu một điểm– Bạch Thế Tôn! Mong rằng Ngài quy định từ nay về sau, các người trẻ tuổi muốn xuất gia phải được sự đồng ý cho phép của cha mẹ. Đức Phật hoan hỷ nhận chẳng còn hứng thú gì trên cõi đời này, tất cả đều khô sau, Di mẫu của Phật là phu nhân Kiều-đàm-di xuất gia làm Tỳ-kheo ni, Dadu cũng theo đoàn người nữ họ Thích đến Tỳ-xá-ly xuất gia. Ban đầu, bà không cảm thấy chút gì an lạc khi sống trong Tăng đoàn vắng nhờ đức Thế Tôn cảm hóa, chẳng bao lâu, bà được khai ngộ, khôi phục lại niềm vui, cùng sinh hoạt bình thường, an ổn tự tại trong Phật pháp. Bà rất vui mừng, rất cảm kích đức Thế Phật cũng hoan hỷ, đến lúc ấy Ngài mới hết trách nhiệm với Sa-di La-hầu-la còn quá nhỏ, không thể bắt buộc tu hành giống như người lớn được. Ít lâu sau, khi Tăng đoàn có chế độ Sa-di, Xá-lợi-phất cũng thâu một chú nhỏ là Sa-di Quân-đầu, và hai chú bé thường chơi chung với nhau. Lúc vắng người, cả hai cùng bày những trò chơi trẻ con để đùa cậu bé mới trên mười tuổi, mỗi ngày sống trong Tăng đoàn nghiêm túc, nếu như đó là ý nguyện của chú bé thì không nói chi, như nếu vì hoàn cảnh ép buộc, thì tâm lý sẽ có nhiều thay xuất gia không thấy Tăng đoàn vui vẻ gì, chỉ ngoài mặt không lộ nét bực bội. Một thiếu niên khoảng trên mười lăm tuổi, đối với sự chỉ dạy của người lớn tự nhiên là vâng theo, nhưng dưới khoảng tuổi ấy, theo bản năng tự nhiên của cậu, sẽ có những bất mãn, những tư tưởng phản kháng lại. Những năm còn ban sơ tuổi nhỏ, La-hầu-la cũng như bao trẻ con khác, ưa trêu chọc ấy La-hầu-la ở rừng Ôn Tuyền ngoài thành Vương Xá, có nhiều quan đại thần, trưởng giả, cư sĩ đến hỏi thăm đức Thế Tôn hiện ở đâu. Cậu thường tìm cách nói gạt để trêu ghẹo mọi người. Nếu đức Phật đang ở tinh xá Trúc Lâm, thì La-hầu-la lại nói Ngài ở núi Kỳ-xà-quật. Đức Phật ở tại Kỳ-xà-quật thì cậu nói gạt rằng Phật ở tinh xá Trúc Lâm. Hai nơi ấy cách xa nhau khoảng hai dặm, khiến thiên hạ cứ đi tới đi lui mệt đừ, mà rốt cuộc không gặp được Phật. Khi họ thất vọng quay về, La-hầu-la còn cười nhạo– Các ông không gặp được Phật sao?– Đại đức! Ngài còn cười nhạo bọn tôi nữa ư?– Ai trêu chọc các ông? Tôi lo cho các ông thôi bé La-hầu-la nghịch ngợm không bao giờ nhận lỗi của nhà giàu có, thế lực thì hay ỷ lại vào tiền của và địa vị của cha mẹ, ưa làm chuyện bậy bạ. La hầu-la vốn là cháu vua Tịnh Phạn, con Phật, tuy xuất gia trong Tăng đoàn bình đẳng nhưng vẫn là con nít, chắc cũng được nhiều người sủng ái, nên theo ý tôi, cậu bé có những tập khí kiêu mạn, cũng là tâm lý gạt mọi người một lần, hai lần, thiên hạ còn bị lầm, nhưng sau vài lần mọi người đều biết, và tiếng đồn La-hầu-la nói dối, chọc ghẹo người đến tai Phật. Đức Thế Tôn không vui chút nào. Một hôm Ngài đích thân đến rừng Ôn Tuyền, răn dạy La-hầu-la một Lời Răn của Phật hay bài học rửa chânHôm ấy, đức Thế Tôn đến chỗ ở của La-hầu-la, với dáng hết sức oai nghiêm. La-hầu-la không ngờ vội chỉnh y ra nghinh đón Phật. Đợi cho Thế Tôn an tọa, cậu đem nước đến cho Phật rửa chân. Đức Phật không nói một lời, rửa chân xong, bèn chỉ nước dơ trong chậu bảo La-hầu-la– Này La-hầu-la! Thứ nước dơ bẩn này có đem uống được không?– Bạch Thế Tôn! Nước rửa chân rất dơ, không thể uống được.– Ông cũng giống thứ nước đó! – Đức Thế Tôn quở– Nước vốn trong sạch, rửa chân xong bèn trở nên cáu bẩn, giống như ông vốn là vương tôn, lìa bỏ mọi thứ vinh hoa phú quý tạm bợ của thế gian, xuất gia làm Sa-môn, tuy chưa thọ giới Tỳ-kheo, nhưng ông đã thọ mười giới Sa-di. Ông không tinh tấn tu tập, không để thân tâm thanh tịnh, không giữ miệng cẩn thận lời nói, dối gạt chọc ghẹo người, cấu uế của tam độc đầy dẫy trong tâm ông, giống như nước trong sạch bị dơ bẩn một Phật dậy La Hầu LaNước vốn trong sạch, rửa chân xong bèn trở nên cáu bẩn, giống như ông vốn là vương tôn, lìa bỏ mọi thứ vinh hoa phú quý tạm bợ của thế gian, xuất gia làm Sa-môn, tuy chưa thọ giới Tỳ-kheo, nhưng ông đã thọ mười giới Sa-di. Ông không tinh tấn tu tập, không để thân tâm thanh tịnh, không giữ miệng cẩn thận lời nói, dối gạt chọc ghẹo người, cấu uế của tam độc đầy dẫy trong tâm ông, giống như nước trong sạch bị dơ bẩn một bao giờ đức Thế Tôn nghiêm nghị như vậy. La-hầu-la cúi đầu chẳng dám ngó Phật bảo đem nước đổ đi, cậu bé mới nhúc nhích. Đợi La hầu-la đổ hết nước xong, Phật lại hỏi– La-hầu-la! Ông lấy cái chậu này đựng cơm được không?– Bạch Thế Tôn! Chậu đựng nước rửa chân không thể đem đựng cơm, vì chậu đã dơ, đầy cáu ghét không thể đựng thức ăn được!– Ông cũng giống cái chậu đó. Tuy làm Sa-môn thanh tịnh mà không tu giới định huệ, thân khẩu ý không thanh tịnh, chứa đầy cấu uế không chân thật, thức ăn đạo lý làm sao nhét vào tâm ông ?La-hầu-la sợ toát mồ hôi, xấu hổ muốn độn thổ, phát nguyện từ nay về sau cố gắng sửa đổi tâm tánh. La-hầu-la tuy có bản tính tốt ngoan ngoãn, nhưng phải có pháp thủy của đức Thế Tôn tẩy rửa một phen mới trở nên thanh tịnh vô nhiễm nói xong lấy chân đá nhẹ cái chậu lăn mấy vòng, La-hầu-la thấy thế hoảng sợ. Phật lại hỏi– La-hầu-la! Ông sợ cái chậu này bị đá bể không?– Bạch Thế Tôn! Không ạ. Chậu rửa chân là đồ vật xấu, có bể cũng chẳng sao.– La-hầu-la! Ông không tiếc cái chậu này, giống như mọi người không thương mến ông. Ông xuất gia làm Sa-môn, không giữ oai nghi, nói dối đùa ghẹo, ai mà thương ông được. Không ai quý tiếc gì ông, cho đến lúc ông chết mà ông không hối cải, lại càng chìm trong mê sợ toát mồ hôi, xấu hổ muốn độn thổ, phát nguyện từ nay về sau cố gắng sửa đổi tâm Phật răn dạy xong, lại nói thêm một ví dụ cho La-hầu-la nghe– Đời quá khứ, có một quốc gia nọ nuôi hai con voi lớn dũng mãnh thiện chiến. Mỗi khi nhà vua cử binh ra trận, lại trang bị áo giáp cho chúng. Ngà voi mang giáo nhọn, bên tai giắt kiếm bén, bốn chân đều có dao sáng ngời, sau đuôi lại cột thêm gậy sắt. Tuy mang nhiều vũ khí như thế, nhưng mỗi khi giao chiến chúng đều cuốn vòi dấu kín, vì đó là chỗ nhược, nếu để trúng tên liền chết ngay, vì muốn giữ gìn mạng sống phải giữ kỹ chiếc Ông cũng phải như voi kia giữ kỹ cái vòi, cẩn thận giữ gìn lời nói, mỗi khi mở miệng nói đùa như voi bị thương, huệ mạng của ông sẽ mất, không được mọi người thương mến, không được người trí ưa thích, đến khi lâm chung sẽ bị rơi vào ba đường Thế Tôn dùng hết tình hết lý, khẩn thiết, nghiêm trang răn dạy, mỗi lời mỗi câu đều in sâu vào tâm La-hầu-la, chú bé phát nguyện từ nay sẽ sửa đổi. Như hạt lúa chúng ta tuy xay giã thành hạt gạo, nhưng còn dính bụi cám, phải vo chà sạch sẽ thì gạo trắng mới ra gạo trắng. La-hầu-la tuy có bản tính tốt ngoan ngoãn, nhưng phải có pháp thủy của đức Thế Tôn tẩy rửa một phen mới trở nên thanh tịnh vô nhiễm được. Từ đó La-hầu-la trở thành một người khác.Còn tiếpBài viết “Tôn giả La Hầu La – Sa di đầu tiên của đức Phật là ai?”Thích Nữ Như Đức/ Vườn hoa Phật giáo

cái chết của la hầu la