Đứng trước cảnh thu, cảm nhận hồn thu khiến cảm hứng làm thơ của thi sĩ bỗng dạt dào. Ông toan cất bút nhưng rồi lại ngập ngừng: "Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào." Nhà thơ thẹn với ông Đào, là thẹn điều gì? Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. Mở đầu bài thơ, tác giả phác họa một bức tranh không gian thoáng đãng. Trên nền trời được chấm phá một nét mỏn, mềm của cành trúc: Trời thu xanh ngắt mấy từng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. (Thu Vịnh, Nguyễn Khuyến) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Tìm và nêu tác dụng của từ láy sử dụng trong văn bản. Câu 2. Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. (Thu vịnh - Nguyễn Khuyến) Trả lời các câu hỏi: Câu 1. Xác định 02 phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ. Câu 2. Tìm trong bài thơ những hình ảnh miêu tả thiên nhiên. Nhận xét về bức tranh thiên Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. (1) o0o (1) Ông Đào: tức Đào Tiềm, tự Uyên Minh, từ quan về ở ẩn đời nhà Tấn, nổi tiếng thanh cao. 5LSJ. Thêm vào Tải nhạc Chia sẻ Nhạc chờ Báo lỗi Thông tin Vui lòng đăng nhập trước khi thêm vào playlist! Tải Nhạc 128 Kbps Tải Nhạc Lossless Thêm bài hát vào playlist thành công Thêm bài hát này vào danh sách Playlist Bài hát nho nhau tuan khanh do ca sĩ Ngoc Ha thuộc thể loại Tru Tinh. Tìm loi bai hat nho nhau tuan khanh - Ngoc Ha ngay trên Nhaccuatui. Nghe bài hát Nhớ nhau Tuấn Khanh chất lượng cao 320 kbps lossless miễn phí. Ca khúc Nhớ nhau Tuấn Khanh do ca sĩ Ngọc Hạ thể hiện, thuộc thể loại Trữ Tình. Các bạn có thể nghe, download tải nhạc bài hát nho nhau tuan khanh mp3, playlist/album, MV/Video nho nhau tuan khanh miễn phí tại Lời bài hát Nhớ nhau Tuấn Khanh Lời đăng bởi midumidu Ai có về miền thùy dương Những chiều sương xuống lạnh lùng Gửi *** tôi với người thương Dẫu cách xa muôn vạn trùng dương Những đêm một mình trên Hương Gió lặng chỉ nghe nhớ thương Tôi khóc cuộc tình lãng phai Tiết chiều đón qua lạnh lùng Người ơi có thấu lòng chăng Gối ánh trăng mơ về người thương Những đêm bên dòng Hương Giang Dòng sông nuôi bằng mối tình Chừ còn xa nhau Thì còn mãi kiếp sầu đau Chờ nhau còn đâu nối tiếp ngày sau Nhớ em gọi tên chỉ nghe lá rớt bên thềm Nhiều đêm thầm mơ những cuộc tình êm đềm Nhưng đã muộn rồi còn đâu Kiếp này đã lỡ rồi Mà lòng còn vương vấn sầu đau Gió, gió đông thôi đừng lạnh nữa có nghe mưa tạnh đêm rồi Làn mi khép lại xa xôi Thu Vịnh Nguyễn Khuyến Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Nước biếc trông như tầng khói phủ, Song thưa để mặc bóng trăng vào. Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái, Một tiếng trên không ngỗng nước nào? Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. Rút từ Quốc văn tùng ký Nam âm thảo Quế Sơn thi tập Tiêu đề trong Nam âm thảo chép là Mùa thu ngồi mát ngâm thơ. Nguồn 1. Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971 tái bản 1979 2. Nguyễn Khuyến – Tác phẩm, Nguyễn Văn Huyền chủ biên, NXB Khoa học xã hội, 1984 3. Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Giáo dục, 1994 Phân tích bài “Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến Qua việc vịnh mùa thu với những nét đẹp tiêu biểu, Nguyễn Khuyến cho thấy một tâm sự u hoài, một tấm lòng xót xa trước cảnh, kín đáo, bày tỏ một tình cảm yêu nước chân thành. 1. Tổng Qua việc vịnh mùa thu với những nét đẹp tiêu biểu, Nguyễn Khuyến cho thấy một tâm sự u hoài, một tấm lòng xót xa trước cảnh, kín đáo, bày tỏ một tình cảm yêu nước chân thành. 2. Phân tích a. Đề Giới thiệu tổng quát cảnh mùa thu Hình ảnh “Trời thu xanh ngắt…” màu xanh quen thuộc của Nguyễn Khuyến khi tả mùa thu, “mấy tầng cao” vẽ được cái cao vút, thăm thẳm của khung trời mùa thu. Hình ảnh “cần trúc lơ phơ” tạo nét động cho bức tranh thu. “Hắt hiu” diễn tả được cái se lạnh của gió mùa thu. Cách giới thiệu rất khéo và rất đạt. b. Thực Cảnh trăng nước của mùa thu Màu sắc nước biếc hoà hợp trong tranh của Nguyễn Khuyến. Cách so sánh “trông như tầng khói phủ” làm cho cảnh dịu nhẹ, mờ nhạt. Ta hình dung được mùa thu trong màu biếc lẫn với màu khói. Hình ảnh “Song thưa để mặc ánh trăng vào” quen thuộc mà vẫn nên thơ. Cách nói của Nguyễn Khuyến “để mặc” cho thấy cảnh của ông phóng khoáng, tâm hồn ông rộng mở. Cảnh đẹp, màu sắc dịu nhẹ. Cảnh cho thấy sự hoà nhập của con người với ihiên nhiên. Ta có cảm tưởng Nguyễn Khuyển đang thả mình trong thiên nhiên với làn nước, với ánh trăng. c. Luận Cảnh hoa và tiếng chim ngỗng của mùa thu Nghệ thuật đảo ngữ làm nổi bật hình ảnh “mấy chùm” hoa và “một tiếng” ngỗng. Hình ảnh “hoa năm ngoái” có sức gợi tả mạnh; “hoa năm ngoái” có nghĩa là hoa vẫn là hoa y như năm ngoái gợi lên cho ta hiểu mà nước hôm nay thì đã trở thành “nước nào”. Hình ảnh “hoa năm ngoái” làm ta nhớ cách dùng chữ của Nguyễn Du “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Tiếng ngỗng ở đây, về nghệ thuật, là lấy cái động để diễn tả cái tĩnh. Nói tóm lại, hai câu luận cũng là tả về mùa thu, nhưng qua cảnh, ta thấy được tâm trạng của nhà thơ, thấy được sự thầm kín của một con người không thể dửng dưng trước cảnh mất nước. d. Kết Cảm hứng và nỗi thẹn của nhà thơ “Nhân hứng” tức là cái hứng thú trước cảnh đẹp của mùa thu. “Toan cất bút” nghĩa là định làm thơ, cảnh thu đẹp và gợi hứng cho nhà thơ. “Nghĩ ra” tức là ý thức, là lý trí, là tỉnh. Nguyễn Khuyến rất say mà rất tỉnh. Ông say trước cảnh đẹp của mùa thu, nhưng ông vẫn tỉnh trước lương tâm của mình. Cho nên, ông nói được là thẹn. Nhưng thẹn với ai? Ông Đào tức là Đào Tiềm, một danh sĩ đồng thời là một nhà thơ nổi từ đời Tấn, đã “dũng thoái” treo ấn từ quan, về sống với ruộng vườn, với hoa cũ được giữu cho được cái khí tiết của mình. Bằng điển tích này, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ “cái tôi” của mình trong cảnh sắc mùa thu một cách khá đậm nét. “Thẹn với “ông Đào” là một cách nói bộc lộ đưực tấm lòng thanh cao của nhà thơ, thể hiện được cái tự hào khiêm tốn của ông trước lương tâm của mình “Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu”. 3. Hợp Bài Thu vịnh tả tổng quát về mùa thu, chứ không nói một đặc cảnh “uống rượu” hay “câu cá”, nhưng ta vẫn thấy nét thu đặc biệt của Nguyễn Khuyến. Hơn nữa, trong cảnh sắc mùa thu này, ta thấy khá rõ được tâm hồn thanh cao và khí tiết của một người “Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết”. Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ trích bài Mẹ Mốc của Nguyễn Khuyến. Trần Phò Giáo viên chuyên Văn – Trường THPT Lê Hồng Phong – Thành phố Hồ Chí Minh Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Thu Vịnh” của tác giả Nguyễn Khuyến. Bài thơ thuộc Tập Thơ Chữ Nôm – Nguyễn Khuyến, danh mục thơ Nguyễn Khuyến Nguyễn Thắng một trong những Nhà Thơ Việt Nam Vĩ Đại Và Tiêu Biểu. Hãy cùng đọc và thưởng thức nhiều tác phẩm thơ ca khác, có rất nhiều bài thơ hay đang chờ các bạn! Các Bạn Đang Xem Bài Viết Bài Thơ “Thu Vịnh” Nguyễn Khuyến Tập Thơ Chữ Nôm Của Tác Giả Nguyễn Khuyến Trong Tập Thơ Chữ Nôm Tại Blog Truy Cập Blog Thường Xuyên Để Xem Nhiều Bài Viết Mới Hàng Ngày Nhé! Tuyển tập Bộ đề Đọc hiểu Thu vịnh hay nhất. Hướng dẫn trả lời câu hỏi các đề Đọc hiểu Thu vịnh chi tiết, bám sát nội dung đề thi. Đọc hiểu Thu vịnh – Đề số 1 Đọc bài thơ sau và thực hiện yêu cầu Trời thu xanh ngắt mấy từng cao Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu Nước biếc trông như từng khói phủ Song thưa để mặc bóng trăng vào. Mấy chùm trước giậu, hoa năm ngoái Một tiếng trên không, ngỗng nước nào? Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. Thu vịnh – Nguyễn Khuyến Câu hỏi Câu 1 Xác định đề tài của bài thơ? Câu 2 Tìm những hình ảnh gợi tả bức tranh mùa thu. Câu 3 Không gian mùa thu được biểu hiện thế nào trong 2 câu thơ Nước biếc trông như từng khói phủSong thưa để mặc bóng trăng vào. Câu 4 Qua các hình ảnh về mùa thu trong bài thơ, tác giả thể hiện tình cảm gì với thiên nhiên. Trả lời Câu 1. Đề tài mùa thu Câu 2. – Trời thu xanh ngắt – Gió hắt hiu – Nước biếc Câu 3. Màu nước đặc trưng đặc trưng cho mùa thu se se lạnh, mặt hồ luôn có một lớp sương mỏng phủ khói. Có ánh trăng thu, bức tranh mùa thu trong thơ thêm sáng. Mọi vật trong đêm thu được pha thêm ánh trăng huyền ảo, mộng mơ. Câu 4. – Yêu thiên nhiên, hiểu được vẻ đẹp của bức tranh mùa thu. Đọc hiểu Thu vịnh – Đề số 2 Đọc đoạn trích Thu vịnh Trời thu xanh ngắt mấy từng cao Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu Nước biếc trông như từng khói phủ Song thưa để mặc bóng trăng vào. Mấy chùm trước giậu, hoa năm ngoái Một tiếng trên không, ngỗng nước nào? Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. Tuyển tập thơ Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 2003, tr. 34 Thực hiện các yêu cầu sau Câu 1. Xác định thể thơ được sử dụng trong đoạn trích. Câu 2 Tìm những tính từ miêu tả vẻ đẹp của mùa thu. Câu 3. Cho biết tác dụng của câu hỏi tu từ trong câu thơ “Một tiếng trên không ngỗng nước nào ? Câu 4 Anh/chị có suy nghĩ gì về nỗi thẹn của tác giả qua hai câu thơ cuối? Trả lời Câu 1. Thất ngôn bát cú Câu 2. Tính từ xanh ngắt, biếc Câu 3. tác dụng của câu hỏi tu từ trong câu thơ “Một tiếng trên không ngỗng nước nào ? -> Tác dụng Tăng sức gợi hình gợi cảm, tăng sự diễn đạt và nhịp điều cho câu thơ đồng thời thể hiện được tâm trạng nỗi buồn man mác, àm thổn thức nỗi lòng của thi nhân. Câu 4. Rung động trước mùa thu, Nguyễn Khuyến cảm thấy “thẹn với ông Đào”. Nguyễn “thẹn với ông Đào” là về khí tiết. Câu thơ thể hiện một tấm lòng chân thực, nỗi niềm u uẩn của một nhân cách lớn, của một nhà thơ lớn. Đã về ẩn dật rồi, Nguyễn Khuyến vẫn còn chưa nguôi ân hận về những năm tham gia guồng máy chính quyền thối nát tàn bạo thời bấy giờ. Qua đó ta thấy được nhân cách cao cả của thi nhân. Đọc hiểu Thu vịnh – Đề số 3 Đọc và trả lời các câu hỏi sau Thu vịnh Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Nước biếc trông như tầng khói phủ Song thưa để mặc ánh trăng vào. Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái, Một tiếng trên không ngỗng nước nào ? Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. Nguyễn Khuyến Câu hỏi Câu 1 Tác giả của bài thơ thuộc gia đoạn văn học nào? Câu 2 Chủ đề của bài thơ? Câu 3 Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh nào? Em hiểu như thế nào về từ “xanh ngắt”? Câu 4 Trong câu thơ “Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu” tác giả sử dụng nghệ thuật nào? Câu 5 Bài thơ gieo vần gì? Câu 6 Cảm nhận của em về câu thơ “Nước biếc trông như tầng khói phủ”? Câu 7 Giữa hai câu thơ “Nước biếc trông như tầng khói phủ Song thưa để mặc bóng trăng vào” tác giả sử dụng nghệ thuật gì? Câu 8 Em hiểu như thế nào về câu thơ “Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái”? Câu 9 Hiệu quả của âm thanh “tiếng ngỗng” trong việc khắc hoạ khung cảnh mùa thu? Câu 10 Em biết gì về ông Đào? Câu 11 Nguyễn Khuyến rất thích dùng từ “xanh ngắt” để miêu tả trời thu. Ông còn sử dụng từ này trong câu thơ nào? Hãy ghi lại. Câu 12 Em hiểu như thế nào về cụm từ “ toan cất bút”? Câu 13 Bài thơ khắc hoạ mùa thu vùng đồng bằng Bắc Bộ, em có biết bài thơ nào viết về đề tài này không? Hãy ghi lại tên bài thơ và 2 câu trong bài thơ đó. Đăng bởi THPT Trịnh Hoài Đức Chuyên mục Lớp 11, Ngữ Văn 11 Thu vịnh February15 Trời thu xanh ngắt mấy tầng caoCần trúc lơ phơ gió hắt hiuNước biếc trông như tầng khói phủSong thưa để mặc bóng trăng vàoMấy chùm trước giậu hoa năm ngoáiMột tiếng trên không ngỗng nước nào?Nhân hứng cũng vừa toan cất bútNghĩ ra lại thẹn với ông Đào Ông Đào tức Đào Tiềm, một nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc. Bình luận Mỗi nghệ sĩ có một lãnh địa sáng tác riêng. Với Nguyễn Khuyến, lãnh địa đó là làng quê Việt Nam. Dưới ngòi bút tài hoa của ông, làng cảnh Việt Nam hiện lên thật gần gũi, hồn hậu. Phân tích thu vịnh sẽ thấy được những nét đặc trưng của làng quê trong những ngày mùa thu của đất tích thu vịnh của Nguyễn Khuyến chi tiếtMở bài Thân bàiKết luậnPhân tích thu vịnh của Nguyễn Khuyến chi tiết Mở bài Như đã nói, Nguyễn Khuyến thường dành tình cảm đặc biệt cho quê hương làng cảnh Việt Nam. Ông có một chùm thơ nổi tiếng viết về mùa thu gồm có 3 bài Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm đều đặc tả phong cảnh làng quê. Phân tích thu vịnh cũng như chùm thơ này sẽ thấy, Nguyễn Khuyến đã sáng tác theo lối “chùm ba” của đại thi hào Trung Quốc – Đỗ Phủ. Thân bài Phân tích thu vịnh của Nguyễn Khuyến – bức tranh mùa thu huyền hoặc Đối với bài “Thu vịnh”, Xuân Diệu từng nhận xét rằng đây là bài thơ trong ba bài về mùa thu của Nguyễn Khuyến mang cái hồn, cái chất của mùa thu hơn cả. Qua “Thu vịnh”, mùa thu xử Bắc hiện lên rõ nét, tinh tế và cũng ẩn chưa những tâm sự sâu kín của người viết Trời thu xanh ngắt mấy từng cao. Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Nước biếc trông như tảng khói phủ, Song thưa để mặc bóng trăng vào Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái Một tiếng trên không ngỗng nước nào? Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. Mở đầu bài thơ, tác giả phác họa một bức tranh không gian thoáng đãng. Trên nền trời được chấm phá một nét mỏn, mềm của cành trúc Trời thu xanh ngắt mấy từng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. “Trời thu xanh ngắt” là điểm đặc trưng đầu tiên của mùa thu xứ Bắc. Nhưng màu xanh ấy không chỉ là màu của trời thu mà còn ẩn chứa tình yêu tha thiết của người viết đối với mùa thu cũng như làng cảnh quê hương. Không gian ngày mùa thu còn mở ra thăm thẳm với “mấy tầng cao”. Giữa màn trời xanh ngắt, một cành trúc vươn lên thật thanh cao mà không đìu hiu như “rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang” như trong thơ của Xuân Diệu. Từ láy “lơ phơ” khi tả cành trúc cũng thật gợi hình, nó gợi tả sự thưa thớt của lá trúc, nên trước gió mùa thu không ngừng lay động. Còn cơn gió “hắt hiu” là gió như thế nào? Đúng hơn, cái sự “hắt hiu” đó là những rung động, là nỗi buồn mơ hồ mà tâm hồn người thi nhân cảm thấy khi đứng trước cảnh thu đượm buồn. Nhưng rồi bức tranh mùa thu trong “Thu vịnh” được Nguyễn Khuyến cho thêm sắc màu mới, đường nét và hình ảnh mới. Cái không khí mùa thu xứ Bắc vì thế thêm đa đa dạng hơn Nước biếc trông như tầng khói phủ Song thưa để mặc bóng trăng vào Và mùa thu được pha thêm màu “nước biếc”, mùa thu được khoác lên chiếc áo mới với màu xanh tha thiết. Gợi hình, gợi cảm hơn nữa khi áo thu trong xanh hòa quyện cùng “khói phủ” nhạt nhòa. Như cảnh đêm thu còn huyền diệu hơn thế khi có thêm trăng. Người thi nhân mở cửa để đón trăng “Song thưa để mặc bóng trăng vào”. Cũng như nhiều nhà thơ khác, trăng là người bạn tri kỉ của Nguyễn Khuyến. Và có lẽ, nếu không có sự hiện diện của trăng, bức tranh mùa thu sẽ thiếu đi nhiều sự thi vị. Cảnh vật trong đêm được bao trùm bởi ánh trăng sẽ trở nên huyền ảo, mộng mơ hơn. Cảnh đêm thu ấy càng trở nên huyền hoặc hơn khi có sự góp mặt của tiếng chim, của “giậu hoa”; Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái Một tiếng trên không ngỗng nước nào? Hoa mùa thu vẫn thế, không có sắc màu, là bởi khói phủ nhạt nhòa hay người viết đã không còn ý niềm về dòng thời gian trôi. Nên chỉ biết là hoa năm ngoái, mà chẳng rõ “mấy chùm trước giậu” là hoa gì, có màu sắc ra sao. Điều này khiến tứ thơ của Nguyễn Khuyến thêm trừu tượng và dường như đó cũng là tâm trạng bất biến của người viết. “Một tiếng trên không ngỗng nước nào?”, câu thơ mang một nỗi buồn man mác, khi âm thanh của mùa thu là một tiếng ngỗng trời xa lạ, cái xa lạ khiến lòng người thi nhân thổn thức. Phân tích thu vịnh của Nguyễn Khuyến – Nỗi lòng của người thi nhân trước cảnh thu Nguyễn Khuyến viết bài thơ với cảm hứng từ một đêm thu huyền diệu, nhưng cũng chính trong đêm thu ấy mà niềm thi hứng lại mang nỗi niềm u uẩn. Nhân hứng cũng vừa toan cất bút Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào Trước cảnh thu đẹp mà buồn man mác, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ nỗi lòng mình. Với Nguyễn Khuyến cũng như với các nhà thơ chân chính, thơ sẽ luôn gắn liền với nhân cách. Nhân cách lớn thì thơ lớn. Khi rung động trước cảnh đêm thu, toan cất bút làm thơ, Nguyễn Khuyến lại cảm thấy “thẹn với ông Đào”. Ông Đào Nguyễn Khuyến nhắc đến là Đào Tiềm – nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc xưa kia. Ông thẹn bởi so với “ông Đào” vì cái khí tiết của ông trong giới quan trường Trung Hoa khi dứt khoát từ quan. Nghĩ về mình, Nguyễn Khuyến làm quan trong thời buổi khó tránh khỏi việc là tay sai của giặc Pháp. Bởi vậy, khi đã về quê sống ẩn dật, ông vẫn luôn ân hận về những năm làm việc trong bộ máy chính quyền thối nát tàn bạo thời ấy. Như vậy, phân tích thu vịnh ta không chỉ thấy một bức tranh mùa thu đẹp huyền ảo mà còn thấy được tấm lòng chân thực cũng như niềm u uẩn một nhà thơ, một nhân cách lớn Nguyễn Khuyến. Kết luận Một lần nữa cần khẳng định rằng “Thu vịnh” là một bài thơ thơ viết về mùa thu. Qua bài thơ, bức tranh mùa thu hiện lên thật thanh đạm, uyển chuyển và cũng thật huyền ảo. Bên cạnh đó, “Thu vịnh” còn là nỗi lòng tha thiết của nhà thơ đối với quê hương đất nước. Bởi vậy, phân tích thu vịnh ta như thấy, Nguyễn Khuyến miêu tả vẻ đẹp của đêm mùa thu và cũng là bộc bạch những nỗi niềm sâu kín. Qua bài thơ “Thu vịnh” người đọc sẽ cảm nhận được vẻ đẹp thiên nhiên của làng quê Việt Nam, từ đó càng thêm yêu quý quê hương mình.

nhân hứng cũng vừa toan cất bút