Khoa học chế tạo thành công vũ khí laser điều khiển bằng AI để truy sát gián, sinh vật cứng đầu nhất hành tinh Theo một bài viết ngày 21/9 trên tạp chí Oriental Insects, có một loại vũ khí laser do AI điều khiển , có thể xác định và tiêu diệt loài gián, vừa được phát
Vì sao con người không có con mắt thứ ba? Tâm Anh (tổng hợp) Sự kiện: Giải Mã Bí Ẩn. Chia sẻ. Trang: 1/10. Con mắt thứ ba còn được gọi là Huệ nhãn hay Tuệ nhãn, Thần nhãn, Thiên nhãn thông Khái niệm này con mắt thứ 3 được đề cập nhiều nhất trong Phật giáo Ấn Độ
Hành trình về phương Đông kể về những trải nghiệm của một đoàn khoa học gồm các chuyên gia hàng đầu của Hội Khoa Học Hoàng Gia Anh được cử sang Ấn Độ nghiên cứu về huyền học và những khả năng siêu nhiên của con người. Suốt hai năm trời rong ruổi khắp các đền chùa Ấn Độ, chúng kiến nhiều pháp
Covid-19 khiến trẻ gặp khó khăn hơn trong giao tiếp. Kênh truyền hình NBC News của Mỹ dẫn một nghiên cứu cho thấy, những đứa trẻ sinh ra trong thời kỳ phong tỏa liên quan đến đại dịch Covid-19 phải mất nhiều thời gian hơn mới đạt được những mốc phát triển nhất định
Luôn mang theo người. Đây là vấn đề Tâm Linh, có tin có lành, chớ có phê phán vì khoa học còn huyền bí nhưng ngày càng sáng tỏ là có thật đấy, chẳng tốn kém gì, dễ giúp người khác, nếu có con cháu ở riêng thì lo thêm cho con cháu mình càng tốt, lại tiết kiệm vàng mã
yv4p2dP. 15 quyển sách khoa học huyền bí giúp chúng ta hiểu rằng khoa học không chứa đựng tất cả câu trả lời, mà từ các hiện tượng siêu nhiên thần bí chúng ta có thể học được rất nhiều điều để áp dụng vào cuộc Mã Thần Số HọcĐây là công trình khoa học với phương pháp độc đáo dựa trên hệ thống Pythagoras để tiên đoán về vận mệnh và cuộc sống con người; là cuốn sách thể loại tiên tri bán chạy nhất. Hiện tại đã có 16 triệu bản được bán ra , được dịch ra 25 ngôn ngữ trên thế giớiLà khám phá mới với nghệ thuật đơn giản của số học, tiết lộ cho ta biết toàn bộ về bản thân và mọi ngườiThể hiện diễn biến của cuộc đời và con đường sự nghiệp để đưa ra quyết định cho chính mình – quyết định cho bản thân – quyết định thành bại và quyết định vận mệnh, giúp ta có được cuộc sống mà ta Dịch Trọn BộKhổng Tử đã từng nói “Nếu cho tôi sống thêm vài năm nữa, thì cho dù 50 tuổi học Kinh Dịch cũng không phải là sai lầm”.Có thể nói, Kinh Dịch là một trước tác kinh điển lâu đời nhất, kết tinh trí tuệ của văn hóa Trung Hoa cổ đại. Kinh Dịch phát hiện tính quy luật và phương pháp nhận thức, dự đoán, xử lý sự vật, và với ý nghí nghĩa phương pháp luận này, nó có ảnh hưởng quan trọng đối với nhiều lĩnh vực như triết học, khoa học xã hội, văn hóa nghệ thuật… của Trung Quốc từ xưa đến Kinh Dịch có 384 hào, có nghĩa là có 384 lời khuyên hữu Tiên Tri Vanga – Vũ Trụ Huyền BíNhắc tới cái tên Vanga có lẽ không ít người cảm thấy tò mò. Một người có khả năng tiên tri và thấu thị có cuộc sống ra sao? Họ biết được những bí ẩn nào của nhân loại, của thế giới và thậm chí của cả vũ trụ?Nhà tiên tri Vanga và Vũ trụ huyền bí sẽ hé mở cho bạn tấm màn bí mật ấy. Cuốn sách dựa trên những lời tiên tri và giáo huấn của Vanga, so sánh và kết hợp với một triết thuyết cổ xưa, Agni Yoga, để vẽ nên một bức tranh tương đối đầy đủ về những điều cực kỳ quan trọng, nhưng có lẽ không nhiều người biết, về cuộc sống Nào Ta Cũng Tìm Thấy NhauKiếp nào ta cũng tìm thấy nhau nói về những linh hồn tri kỷ, những người có mối liên kết vĩnh viễn với nhau bằng tình yêu thương, luôn gặp lại nhau hết lần này đến lần khác, qua hết kiếp này tới kiếp khác. Chúng ta sẽ tìm thấy và nhận ra tri kỷ của mình như thế nào, rồi đưa ra những quyết định làm thay đổi cuộc sống của chính mình ra sao là những khoảnh khắc quan trọng và xúc động nhất trong cuộc đời mỗi mệnh sẽ dẫn lối cho những linh hồn tri kỷ hội ngộ. Chúng ta sẽ gặp họ. Nhưng quyết định làm gì sau đó lại là quyền tự do lựa chọn của mỗi người. Một lựa chọn sai lầm hoặc một cơ hội bị bỏ lỡ có thể dẫn đến nỗi cô đơn và thống khổ tột cùng. Và một lựa chọn đúng đắn, một cơ hội được nắm bắt có thể mang lại niềm hạnh phúc sâu gì tác giả viết trong sách được ghi lại từ hồ sơ bệnh án, băng thu âm và trí nhớ. Chỉ có tên và một vài chi tiết nhỏ được thay đổi để giữ tính bảo mật. Đây là câu chuyện về vận mệnh và hy vọng. Đây là câu chuyện xảy ra âm thầm mỗi Thuật Và Các Đạo Sĩ Tây TạngHành trình 12 năm trong đất Phật huyền bíGần 100 năm kể từ ngày ra mắt, Mystyquet et Magiciens du Tibet, cuốn sách vang dội châu Âu của nữ tác giả người Pháp Alexandra David – Neel, mới có dịp đến tay bạn đọc Việt Nam với tên gọi Huyền thuật và các đạo sĩ Tây Tạng. Cuốn sách là một thiên phóng sự đáng kinh ngạc của tác giả trong hành trình xuyên qua vùng đất Tây Tạng để khám phá các huyền thuật của đạo sĩ nơi ý định tiếp kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 13 đang lánh nạn tại Ấn Độ vì xung đột chính trị với triều đại Mãn Thanh, Alexandra David – Neel không ngờ các bí mật về huyền thuật Tây Tạng lẫn lời chỉ dẫn sâu xa của những vị đạo sư đã dẫn bà đi xa hơn dự định ban đầu của mình. Sau 12 năm rong ruổi khắp Tây Tạng, Alexandra đã để lại tập sách Huyền thuật và các đạo sĩ Tây Tạng như một công trình nghiên cứu quan trọng về vùng đất đầy bí ẩn Nghiệm Cận TửVới nhiều người, chết là một chủ đề kiêng kỵ. Nhiều người ngại ngần suy nghĩ về nó, cho đến khi xảy ra một biến cố như chẩn đoán bệnh tật đe dọa mạng sống, hoặc cái chết đột ngột của một người thân yêu. Điều đó có thể khiến chúng ta rơi vào hỗn loạn, bế tắc. Nhưng mọi người lại rất ít khi dành thời gian để chiêm nghiệm về nó. Và nghịch lý làm sao, chính khi suy tư về ý nghĩa của cái chết và nghĩ về quá trình từ giã cõi đời, người ta mới trở nên cởi mở hơn trước việc khám phá những điều cốt lõi của một cuộc sống viên mãn, gắn kết hơn với những người xung Penny Sartori đã có 21 năm làm nghề hộ lý, bắt đầu từ năm 1989. Sartori đã có thời gian công tác tại khắp các phòng ban trong bệnh viện, cuối cùng Sartori dừng chân ở phòng cấp cứu. Tại đây, Sartori đối mặt với cái chết thường xuyên đến mức không có chọn lựa nào khác ngoài việc phải đối diện với “cái tất yếu duy nhất” ấy. Trong suốt thời gian hành nghề, Sartori đã chăm sóc cho hàng ngàn bệnh nhân đang hấp hối cho đến khi họ nhắm mắt lìa đời. Một cuộc gặp gỡ đau đớn đã đưa Sartori vào cơn khủng hoảng, khiến Sartori đặt ra câu hỏi về lẽ sống hứng thú của Sartori đã thôi thúc cô tìm hiểu, tích lũy, chắt lọc để viết nên cuốn sách này. Với hơn 20 năm kinh nghiệm nghiên cứu về trải nghiệm cận tử gọi tắt NDE và chứng kiến nhiều nhân chứng tường thuật về trải nghiệm cận tử của chính mình, Sartori hiểu rằng đây là sứ mệnh của cô, cần chia sẻ kiến thức này để giúp mọi người hiểu hơn về trải nghiệm cận tử. Hơn bao giờ hết, con người cần nhận thức về mối liên kết giữa tâm trí, cơ thể và linh Bước Giải Mã Giấc Mơ05 bước giải mã giấc mơ giúp bạn hiểu được ngôn ngữ của giấc mơ vô cùng đơn giản để mỗi đêm bạn có thể ngồi xuống đúng hơn là nằm xuống và cùng trò chuyện với các giấc mơ. Các nhà khoa học nói, ai cũng mơ. Cả Nguyễn Du và John Lennon cũng đồng quan điểm. Chỉ là bạn không nhớ, và không hiểu được ý nghĩa các giấc mơ là gì. Nay, cô Gillian sẽ chỉ bạn cách nhớ lại giấc mơ, ghi lại giấc mơ và hiểu được giấc mơ. Và, bạn sẽ được gặp và đồng hành với một người bạn đường vô cùng thân thuộc lại còn cực kỳ thông thái mà bấy lâu nay mình đã bỏ quên TIỀM THỨC – Nhà máy sản xuất giấc mơ đỉnh nhất mọi thời Sao Thầy Bói Nói ĐúngChỉ cần biết mỗi tên tuổi và ngày sinh, thầy bói đã có thể đọc vanh vách về tiểu sử và tương lai của bạn. Bạn trầm trồ ngạc nhiên và thán phục về khả năng nhìn thấu quá khứ vị lai của họ. Nhưng thực sự thầy bói có khả năng siêu nhiên như vậy hay đằng sau họ là những mánh lới nào khác?Tại sao thầy bói nói đúng – cuốn sách phân tích về tâm linh dưới góc độ tâm lý phải tài liệu khoa học khô khan hay những câu chuyện giật gân, cuốn sách là lời giải đáp về sự kỳ bí của thế giới tâm linh mà chúng ta vẫn tò mò bấy lâu nay. Bằng lối viết sinh động, hài hước và dễ hiểu cùng những bằng chứng khoa học đáng tin cậy, tác giả Richard Wiseman sẽ dẫn bạn đi trên một chuyến hành trình đầy cuốn hút vào một thế giới nơi mọi thứ đều có thể xảy Về Sự ChếtLà cuốn sách miêu tả tường tận về cái chết, chính xác hơn là tiến trình dẫn đến cái chết. Tác giả chọn viết về sáu loại bệnh phổ biến, với những đặc điểm được xem là đặc trưng cho tiến trình mà ai trong đời cũng phải trải qua một hồi ký này của tu sĩ Yogananda có một giá trị độc đáo vì nó là một trong những tác phẩm nói về các bậc thánh nhân, hiền triết Ấn Độ. Không phải nó được viết ra bởi một ký giả hay văn sĩ ngoại quốc, mà bởi một tác giả cùng một nòi giống và cùng một nền giáo dục tâm linh với những người mà ông mô tả. Nói tóm lại, đây là một quyển sách của một người Yogi viết về những người hình thức một truyện tường thuật của một nhân chứng tiết lộ cho chúng ta biết cuộc đời và các quyền năng lạ lùng của những bậc hiền giả của xứ Ấn Độ hiện nay, quyển sách này có một tầm quan trọng rất lớn vượt qua cả thời gian. Độc giả cũng sẽ có dịp thưởng thức những câu chuyện đầy thú vị về cuộc đời của tu sĩ Yogananda mà bản thân tôi từng có hân hạnh được gặp ở Ấn Độ và Hoa Sống Bất TửCuộc sống sau cái chết và sự tồn tại của một Đấng tối cao luôn là đề tài mà con người quan tâm trong suốt chiều dài lịch sử. Là một bác sĩ y khoa, người thành lập Cơ sở Nghiên cứu Trải nghiệm Cận tử Near Death Experience Research Foundation, NDERF, Jeffrey Long đã nghiên cứu trải nghiệm cận tử của nhân chứng có các hoàn cảnh sống, tôn giáo, truyền thống khác nhau; trong đó có những những người tin vào tâm linh và những người không tin vào tâm vào những nghiên cứu này, Jeffrey Long đã viết nhiều cuốn sách gây chú ý về đề tài cuộc sống sau cái chết và thế giới tâm linh. Trong đó, có cuốn “Sự sống bất tử”. Khác với những cuốn sách mô tả về “thế giới bên kia” trước đó, trong cuốn sách lần này, Jeffrey Long tập trung vào việc minh chứng sự tồn tại và mô tả “chân dung” của thượng đế, dựa trên những điểm tương đồng trong lời kể về trải nghiệm cận tử của hàng ngàn nhân Sách Về Các Biểu Tượng Tâm LinhCuốn sách về các biểu tượng tâm linh kể những câu chuyện hấp dẫn và đưa ra cách lý giải về cảm giác mơ hồ nhưng gây sốc, những sự trùng hợp ngẫu nhiên đáng nhớ, một số giấc mơ kỳ lạ mà chúng ta thường gặp. Những điều tưởng chừng bình thường ấy thực chất lại là thông điệp quan trọng đến từ thế giới siêu nhiên, hoặc từ bản thể vũ trụ. Hãy cởi mở trước những lời chỉ dẫn như thế bằng cách nhận ra và giải mã các dấu hiệu cũng như những hiện tượng tương ứng. Hãy mở rộng nhận thức về các biểu tượng trong cuộc sống,nhà sách online cải thiện trực giác, mạnh dạn bày tỏ ước muốn của cẩm nang phong phú này bao gồm những bài tập thiết thực để giúp bạn phát triển năng lực trực giác và đón nhận các trải nghiệm tâm linh trong đời sống Tinh Học Nhập MônBạn cảm thấy mình không giống một Xử Nữ, một Nhân Mã, một Kim Ngưu… cho lắm?Bạn muốn biết sau này mình có giàu không, bao giờ mình có người yêu, mình sẽ yêu người thế nào?Tất cả câu trả lời sẽ đều có trên bản đồ sao cá nhân của đề là, làm thế nào để đọc được bản đồ sao cá nhân?Thay vì tìm mỏi mắt một chiêm tinh gia chuyên nghiệp đáng tin cậy, hay là thử tự đọc bản đồ sao cho mình xem, vì học chiêm tinh cũng không khó lắm đâu!Hành Trình Của Linh HồnCuốn sách này là một cuốn nhật ký gần gũi về thế giới linh hồn. Nó trình bày một loạt các trường hợp thể hiện chi tiết, rõ ràng về những gì xảy ra cho chúng ta khi cuộc sống trên Trái đất kết thúc. Bạn sẽ được dẫn qua đường hầm tâm linh để đến với chính thế giới linh hồn để tìm hiểu về những biến đổi đối với linh hồn trước khi chúng cuối cùng trở lại trên Trái đất trong một cuộc sống Chứng Về Sự Bất Tử“Còn gì có thể hấp dẫn chúng ta hơn một cuốn sách nói về Sự Bất Tử của Con Người?”Bằng chứng về Sự Bất Tử là một tác phẩm khoa học công phu được xuất bản lần đầu vào năm 1899, bàn luận về khả năng tồn tại Sự Sống sau Cái Chết của con người bằng các bằng chứng và cơ sở khoa học, dựa trên những lập luận logic và các quy luật của tự nhiên. Tác giả nghiên cứu vấn đề bằng phương pháp triết học; và điều này không có gì là phi lý, khi mà mọi ngành khoa học đều có tính triết học, và bản thân triết học cũng chính là khoa đó, việc nghiên cứu và phân tích thấu đáo những quy luật của sự vật hiện tượng trong tự nhiên – một công việc vốn dĩ chưa được xem trọng đúng đắn trong khoa học – sẽ giúp chúng ta giải mã sự thật về Cuộc Sống Vĩnh Cửu của chúng ta sau cái chết cũng như mọi bí ẩn khác về sự sống. Cuốn sách này cung cấp cho độc giả những luận điểm căn bản, vững chắc và dễ nắm bắt hơn so với những giả thiết đương thời, chẳng hạn như những lý thuyết giả định về dung môi vĩnh cửu, giả kim, nguyên tử, vật chất,…
Những dấu tích bí ẩn tại đền thờ cổ kính Veerabhadra ở miền đông nam Ấn Độ không khỏi khiến chúng ta liên tưởng đến sự tồn tại của chủng người khổng lồ trong quá khứ xa xưa. Nếu theo dõi phim ảnh trong những năm gần đây, thì hẳn bạn sẽ không thể bỏ qua một số bộ phim đình đám khắc họa chủng người khổng lồ. Hai ví dụ điển hình là bộ phim “Jack và đại chiến người khổng lồ” 2013 chuyển thể từ tiểu thuyết nước Anh nổi tiếng “Jack và cây đậu thần” hay bộ phim “Chuyện chưa kể ở xứ ở khổng lồ” 2016. Phim “Jack và đại chiến người khổng lồ” năm 2013. Ảnh Phim “Chuyện chưa kể ở xứ ở khổng lồ” năm 2016. Ảnh Những bộ phim này đạt được thành công vang dội khi khắc họa một cảnh tượng kỳ thú – những người có vóc dáng trung bình và người khổng lồ gặp gỡ giao lưu với nhau. Nhưng liệu tất cả chúng chỉ đơn thuần là sự tưởng tượng mộng mơ của những người cầm bút, hay những đạo diễn có trí tưởng tượng phong phú dồi dào? “Không có lửa làm sao có khói”, trên thực tế nhưng tác phẩm khắc họa sinh động chủng người khổng lồ, một phần nào đó là được dựa trên hiện thực. Nhưng là hiện thực trong lịch sử nhân loại, không phải cái “hiện thực lịch sử” mà chúng ta được dạy trong trường ngày nay. Chủng người khổng lồ đã biến mất, nhưng những dấu tích họ để lại vẫn còn nguyên ở một số di chỉ khảo cổ, và ngôi đền cổ kính Veerabhadra còn gọi là đền Lepakshi là một trong những ví dụ như vậy. Đền thờ Lepakshi. Ảnh Bằng chứng rõ ràng nhất có lẽ là một dấu chân khổng lồ ở phía mặt trước ngôi đền. Dấu chân khổng lồ trước ngôi đền. Ảnh Wikimedia Nhưng đây không phải là bằng chứng duy nhất. Bên ngoài đền thờ, cách đó 500 m có một bức tượng đá tạc hình bò thần Nandi to lớn, cao 4,5 m, dài 8,2 m. Đây là một bức tượng đá nguyên khối, tức được chạm từ một khối đá duy nhất. Tượng bò thần Nandi uy nghiêm bên ngoài đền Lepakshi. Ảnh Wikimedia Quan sát chú bò này, rất nhiều người Ấn Độ chắc chắn sẽ thắc mắc Tại sao nó lại đứng một mình? Theo tín ngưỡng Ấn Độ, bò Nandi và Linga một biểu tượng linh thiêng luôn đi cùng nhau thành cặp; tượng bò được tạc, hai mắt nhìn vào tượng linga. Đây là một nguyên tắc phổ biến trong việc tạc tượng. Bò Nandi và Linga luôn đi thành một cặp. Ảnh Ảnh Nếu là như vậy, thì tượng linga đi kèm con bò này nằm ở đâu? Nó nằm ở bên trong khuôn viên đền thờ, nhưng ở cách đó tầm 500 m, tức khoảng nửa cây số. Đây là một khoảng cách khá dài. Tượng linga đối ứng với tượng bò Nandi. Ảnh Ảnh Tượng Linga này cao khoảng 3,6 m, và là tượng Linga lớn nhất trên thế giới. Nó cũng được tạc bằng đá nguyên khối giống tượng bò Nandi. Tượng được bảo vệ bởi con rắn 7 đầu naga, nên còn được gọi là naga linga. Cùng với bò nandi ở trên, chúng tạo thành một cặp hoàn chỉnh. Cặp tượng bò Nandi và Linga. Ảnh Youtube Hai bức tượng đá khổng lồ này sẽ chẳng có gì đặc biệt, nếu không phải nhờ cách thức người ta thờ linga. Kinh Vệ Đà cổ đại đề cập đến một cách thờ linga, mà hiện không còn được áp dụng. Tín đồ sẽ đặt hai ngón tay vào hai sừng của bò nandi rồi quan sát linga thông qua đó, như có thể thấy trong hình dưới Tín đồ đặt hai ngón tay lên sừng tượng bò nandi và quan sát linga thông qua đó. Ảnh Tín đồ Ấn giáo thực hành điều này cho tới vài thế kỷ gần đây. Nếu leo lên tượng con bò và quan sát qua 2 chiếc sừng, bạn sẽ có thể nhìn thấy bức tượng khổng lồ linga ở cách đó nửa cây số. Điều này không chỉ một lần nữa xác nhận tượng bò và tượng linga là một cặp, mà còn làm dấy lên một kết luận khó tin. Đó là, những người thợ tạc tượng, hẳn phải có vóc dáng đủ lớn để đặt được hai ngón tay lên hai chiếc sừng của tượng bò nandi, và quan sát linga thông qua cặp sừng này. Bởi như đã nói ở trên, tượng bò này cao đến 4,5 m, nên những thợ xây nó phải cao tầm gấp đôi, tức khoảng hơn 9 m. Như đề cập bên trên, tượng bò nandi nằm bên ngoài đền thờ, còn tượng linga án ngự bên trong đền thờ. Đây là một chi tiết rất kỳ lạ. Ngày nay, nếu đứng trên lưng tượng bò nandi và quan sát linga qua 2 chiếc sừng, chúng ta sẽ chỉ nhìn thấy một nửa linga, bởi có bức tường đền thờ chặn đứng tầm nhìn ở giữa. Vậy tại sao bò nandi và linga vốn dĩ tạo thành một cặp lại được sắp đặt một bên trong một bên ngoài đền thờ như vậy? Thần Veerbhadra Ảnh Bởi lẽ đền thờ này chỉ mới được xây về sau, không cùng thời với cặp tượng bò nandi và linga đó. Theo sử sách, ngôi đền này được xây cách đây 500 năm, vào thế kỷ 16, dưới thời trị vì của Vua Achutaraya. Đền được cấu thành bởi những khối đá lớn, ghép khớp lại với nhau. Nhưng tượng bò nandi và linga lại được đẽo gọt trực tiếp chỉ từ một khối đá duy nhất, hay đá nguyên khối, chứ không phải theo lối kiến trúc xếp hình của đền thờ. Có sự khác biệt trong kỹ thuật xây dựng ở đây. Do đó giả thuyết được đưa ra là, lúc ban đầu, những người khổng lồ đã xây ngôi đền nguyên thủy chứa hai tượng bò nandi và linga sử dụng kỹ thuật đẽo tạc đá nguyên khối. Ngôi đền nguyên thủy này bao trọn hai bức tượng bên trong. Với khoảng cách giữa bò nandi và linga, ngôi đền ban đầu phải rộng cả cây số, là một công trình dài rộng bậc nhất trong khu vực, có thể là ngôi đền lớn nhất từng được xây dựng. Những người khổng lồ chính là tác giả đằng sau. Rốt cục, để mang vác và thao tác với những khối đá khổng lồ như vậy với công nghệ thô sơ thời xưa, những người thợ xây chúng hẳn phải có vóc dáng khổng lồ. Nếu là vậy, thì rốt cục chuyện gì đã xảy ra với ngôi đền nguyên gốc? Theo người dân địa phương, ngôi đền nguyên thủy đã bị phá hủy trong một trận lụt từ hàng nghìn năm trước. Tàn tích duy nhất còn sót lại là tượng bò nandi, linga và dấu chân khổng lồ. Ảnh Ấn Độ là quốc gia duy nhất lưu giữ được rất tốt nền tôn giáo và di tích cổ đại của mình. Lịch sử Ấn Độ cổ đại vẫn được hàng triệu người đón đọc, nhưng hiện thường bị coi là thần thoại hay truyền thuyết thuần túy. Nhưng phần lịch sử quan trọng nhất đến từ người dân địa phương. Lịch sử địa phương được truyền miệng từ đời này sang đời khác. Theo thông tin từ hướng dẫn viên chính thức của ngôi đền, đền Lepakshi ban đầu được xây bởi các vị thần và dấu chân này thuộc về Sita, vợ của Thần Rama. Ông nói tiếp Sita cao 7,6 m, nhưng bà vẫn là một người phụ nữ có vóc dáng bé nhỏ. Vào thời của bà, mọi người đều cao từ 8,5 đến 9,1 m. Hàng ngàn năm sau, Thần Krishna xuất hiện, và ông cao khoảng 4,5 m. Ông cũng cho biết những thợ xây ngôi đền mới, sinh sống cách đây 500 năm, cũng phải cao đến 2,4m. Đọc đến đây, có thể một số người cho rằng, những lý luận trên đều là phỏng đoán mang tính gián tiếp, một số là truyền thuyết địa phương, do đó không thể được coi là bằng chứng xác thực. Tuy nhiên trên thế giới, các nhà khoa học đã khai quật được rất nhiều bộ xương người khổng lồ, thấp thì khoảng trên 2 m, cao thì có khi lên đến gần 11 m. Bên trái ngoài cùng là vóc dáng một người trung bình hiện tại với chiều cao 1,8 m 6 . Bên phải là thông số những bộ xương khổng lồ được phát hiện ở nhiều nơi. Ảnh Wikimedia Và những bộ xương này tuyệt không phải nằm trong nhật ký hay sổ tay cá nhân của các nhà khoa học. Chúng đã tự tìm cho mình chỗ đứng trên các mặt báo, được đề cập đến trên các ấn phẩm uy tín như tờ New York Times, Ảnh New York Times Ảnh New York Times Hãy thử xem xét một vụ khai quật xương người khổng lồ tại Castelnau Pháp. Trong vụ này, xương đùi người khổng lồ được tìm thấy to gấp đôi người bình thường hình dưới. Xương đùi người bình thường giữa chỉ có kích thước bằng một nửa so với xương đùi người khổng lồ trái – phải được khai quật tại Castelnau Pháp. Ảnh Phát hiện này đã được đăng tải trên tạp chí khoa học La Nature thời đó. Tạp chí này hiện vẫn xuất bản, nhưng đã được đổi tên. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, đây không phải là những người mắc hội chứng người khổng lồ gigantism, do hóc môn tăng trưởng từ tuyến yên tiết ra quá mức trung bình. Những người mắc hội chứng này rốt cục cũng được ghi nhận ở nhiều nơi, bao gồm trong thời hiện đại. Lấy đơn cử như hai ví dụ bên dưới Zhuang Shengxiang, người thành phố Hải Ninh, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc cao 2m19. Ảnh ĐKN Người khổng lồ Ấn Độ. Ảnh Tuy nhiên, cái chúng tôi muốn nói đến không phải là những trường hợp cá biệt mắc hội chứng người khổng lồ như vậy. Bởi trên thực tế, các nhà khoa học đã từng khai quật được rất nhiều bộ xương khổng lồ tại cùng một địa điểm, bằng chứng cho sự tồn tại của cả một chủng người khổng lổ, chứ không phải một hay vài cá nhân đơn nhất. Lấy ví dụ, vào cuối thập niên 50, trong quá trình xây đường tại miền đông nam Thổ Nhĩ Kỳ, người ta đã khai quật được rất nhiều ngôi mộ người khổng lồ tại đây. Những ngôi mộ này dài khoảng 4 m, và tại 2 ngôi mộ người ta đã tìm thấy xương đùi của người có chiều dài lên đến gần 1,2 m. Người ta ước tính những người sở hữu xương đùi loại này phải cao 4,2 – 4,6 m. Nói cách khác, đây là mộ của chủng người khổng lồ, những người “khổng lồ từ trong gen”, chứ không phải do bệnh lý tuyến yên đơn thuần. Bài báo loan tin về phát hiện bộ xương dài gần 10 m tại Ấn Độ. Ảnh Một bài báo Ấn Độ từng loan tin phát hiện bộ xương dài đến 9,7 m tại thành phố Jubbulpore ở bang Madhya Pradesh, Ấn Độ. Tin này đã được hàng chục tờ báo trên thế giới đăng tải. Điểm thú vị là một người sở hữu tầm vóc như vậy sẽ có kích thước bàn chân vừa hay ăn khớp với dấu chân in khắc bên ngoài đền thờ Lepakshi. Quý Khải
Lượt xem bài đăng 20,947 Khi có những câu chuyện được kể cho nhiều thế hệ được truyền đi lặp lại, đã đến lúc chúng ta ngồi lại và nghĩ tại sao chúng lại được tạo ra. Ấn Độ, về mặt lịch sử là một vùng đất cổ xưa với nền văn hóa, di sản, truyền thống và tri thức sâu sắc. Người Ấn Độ nhận thức được những kỹ thuật tiên tiến nhất và có kiến thức sâu rộng về Toán học, Khoa học, Văn học và Y học. Điều này được thể hiện rõ qua hồi ký về lối sống và xây dựng của Nền văn minh thung lũng Indus được tìm thấy ở các thành phố hiện tại Punjab và Sindh của Pakistan và Nền văn minh Thung lũng Vaigai, hiện đang được khai quật ở Keezhadi, Tamilnadu - Ấn Độ. Chúng dường như là môi trường sống với các công trình thoát nước và hệ thống quản lý nước thích hợp. Họ phát hiện ra rằng gạch nung được sử dụng để xây dựng và các đồ trang trí bằng vàng, nồi, vũ khí, chữ viết, đã được sử dụng. Điều này có nghĩa là đã có những nhà quy hoạch đô thị hoàn hảo để xây dựng các thành phố với cơ sở hạ tầng tiên chí ngày nay, người ta có thể rút ra một so sánh đơn giản giữa một nhà thiên văn học điển hình của Ấn Độ với các nhà thiên văn vĩ đại và những người quan sát bầu trời từ khắp nơi trên thế giới. Cả hai đều có thể cung cấp cho chúng ta dự báo về các sự kiện ngoài không gian khác nhau. Tuy nhiên, không cần đến sự trợ giúp của bất kỳ công cụ hay quan sát khó khăn nào, người da đỏ vẫn có thể dự đoán chính xác sự xuất hiện của nhật thực, thời tiết, những thay đổi về lối sống tổng thể và nhiều diễn biến khác ở ngoài không gian và trên trái đất, trong Thiên niên kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Có vẻ kỳ lạ khi vùng đất đầy học giả và các nhà khoa học cổ đại cũng đã đưa ra một số huyền thoại và mê tín dị đoan để mọi người nghe theo và tin tưởng? Người ta cần khám phá lý do đằng sau tại sao, tổ tiên người Ấn Độ đã truyền lại những truyền thuyết như vậy cùng với kiến thức phong phú. Nhìn bề ngoài, có vẻ như họ muốn mọi người tuân theo một số thông lệ và tin tưởng vào những điều nhất định vì lợi ích của bản thân và cộng đồng. Nhưng dân sự có thể đã quá vâng lời để đưa ra câu hỏi chống lại các trưởng lão của họ hoặc họ là những người tin tưởng vững chắc vào Đức Chúa Trời. Vì vậy, có thể không dễ dàng thuyết phục họ tuân thủ các thông lệ nhất định. Đó là lý do tại sao, có lẽ kết nối mọi thứ với Chúa là một phương pháp dễ dàng hơn được các giáo viên / học giả thời bấy giờ áp dụng để khiến mọi người tuân thủ nghiêm ngặt một số thực hành. Kết quả là, đã có những thực hành dường như vô căn cứ và phi lý được tiếp nối qua nhiều thế thoại và Mê tín là gì? Có xu hướng chung coi các thực thể tâm linh và nghi lễ là huyền thoại và mê tín dị đoan bởi những người tự nhận mình là “những nhà tư tưởng duy lý và hiện đại”. Để làm rõ hơn, cuộc tranh cãi được tìm kiếm nhiều nhất về việc liệu có Chúa hay không, có lẽ có thể được coi là cơ sở để nói rằng, sự tồn tại của những thứ như Chúa là một huyền thoại. Nhưng đây không phải là chủ đề được quan tâm. Có phải các thực hành tôn giáo / tâm linh / xã hội và một số huyền thoại phong tục không? Đây là câu hỏi mà tôi đang cố gắng đưa ra câu trả lời. Vì vậy, cuộc tranh luận giữa người hữu thần và người vô thần hoàn toàn nằm ngoài phạm vi của bối cảnh hiện tưởng luôn gọi một số phong tục tập quán là mê tín là bởi vì, họ được gọi là “Những người theo chủ nghĩa duy lý” nói rằng họ không thể tìm thấy bất kỳ bằng chứng khoa học nào để thuyết phục mình có lý do để tuân theo các phong tục. Nhưng, mặt khác, người ta không thể bỏ qua thực tế là “Khoa học” cũng có những hạn chế riêng của nó. Ngay cả ngày nay, đang ở trong “Kỷ nguyên kỹ thuật số” của thế kỷ 21, có rất nhiều quan sát trên chính hành tinh mà chúng ta đang sống, đó là điều bí ẩn. "Khoa học" hay "Nghiên cứu Khoa học", vẫn không thể giải thích hoặc hiểu được nhiều sự việc xảy ra như vậy. Sau đây là một số bí ẩn đóBermuda Triangle, là một nơi trên Bắc Đại Tây Dương, ngoài khơi Bắc Mỹ, nơi có khoảng 50 tàu và 20 máy bay chiến đấu đã được báo cáo là mất tích. La bàn được cho là dao động trong vùng mà không chỉ theo một hướng. Các lý thuyết siêu nhiên đã được suy đoán để giải thích điều hiệp hội Hàng hải và Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Hoa Kỳ bác bỏ những giả thuyết này với lý do thiếu bất kỳ bằng chứng nào để chứng minh rằng thương vong là do "các yếu tố bất thường"Một số cố gắng đưa ra lý do khoa học để giải thích hành vi của la bàn và các trường hợp mất tích của phương tiện giao thông, nhưng họ không thể đưa ra bất kỳ bằng chứng thuyết phục nào, và do đó cuối cùng trở thành lý thuyết khoa họcNhưng cho đến nay, không có lý thuyết hợp lý nào có thể xảy ra hoặc một lý thuyết duy nhất giải thích bí ẩn đằng sau "Tam giác quỷ" này một cách cụ thểMáy bay Malaysia mất tích Máy bay Boeing 777-200ER , với 239 hành khách bay từ Kuala Lumpur đến Bắc Kinh vào ngày 8 tháng 2014 năm XNUMXNgay sau khi máy bay cất cánh, đã xảy ra sự cố thông tin giữa máy bay và trạm cơ sở ATC Kiểm soát không lưuSau khi vào không phận Việt Nam, chiếc máy bay đã biến mất khỏi radar phụ. Thậm chí bốn giờ sau, thời gian hạ cánh được chỉ định tại Bắc Kinh, không có phản hồi từ máy bay cũng như không bị lọt vào bất kỳ radar nào. Sau đó, người ta thấy rằng máy bay đã bay trong 6 giờ sau khi ngắt kết nốiCuộc tìm kiếm máy bay mất tích này đã được phát động với sự hỗ trợ quốc tế từ các nước như Ấn Độ. Đây là cuộc tìm kiếm tốn kém nhất trong lịch sử hàng không. Có rất ít mảnh vỡ được tìm thấy gần đảo Reunion của Pháp nằm ở phía tây Ấn Độ Dương, bờ biển Tanzania, Mozambique, Nam Phi, Madagascar và Mauritius trong những năm 2015 và 2016Nhưng những phát hiện của vệ tinh Inmarsat và mảnh vỡ của máy bay được chứng minh là không có ích lợi gì vì không có bằng chứng cụ thể để giải thích chính xác nguyên nhân gây ra vụ mất tìm kiếm kết thúc sau 2018 năm khi Chính phủ Malaysia công bố báo cáo cuối cùng vào tháng XNUMX năm XNUMX không có kết quả và thừa nhận rằng đã có một lỗi cơ học rõ ràng là mất kết nối trong không lý do thực sự đằng sau sự biến mất của nó vẫn còn là một dấu hỏiĐại dịch do Virus Corona bắt đầu ở Trung Quốc vào cuối năm 2019 đã quét toàn cầu và dừng lại vào tháng 2020 năm XNUMXKể từ đó, cho đến ngày nay, tất cả các quốc gia đang cố gắng chiến đấu và thích ứng với bình thường mới với các hạn chế của Covid-19 được áp dụng và việc khóa cửa đang được áp dụng theo thời gianĐiều này đã đặt ra gánh nặng kinh tế nghiêm trọng đối với tất cả các quốc gia và hậu quả vẫn còn được cảm nhận, vì mối đe dọa cho cuộc sống vẫn cònSống trong thời đại Khoa học và Công nghệ tiên tiến nhất, tôi dám cá rằng không ai ngờ rằng con người sẽ phải tự cứu lấy mạng sống của mình bằng cách đeo khẩu trang và vệ sinh mọi thứ liên tục. Nhưng nó đã xảy raHiện các nhà nghiên cứu, khoa học trên thế giới đang nghiên cứu về loại virus này và đã thành công trong việc sản xuất vắc xinNhưng trong khi sử dụng vắc-xin cho công chúng, đã có những tác dụng phụ và một số người đã không may tử vong Hy vọng rằng, sau khi nghiên cứu liên tục sẽ có một loại vắc xin hoàn hảo và một ngày thế giới sẽ trở lại bình thường cũ với mọi thứ trở lại đúng vị trí của nó Cảm ơn Khoa học và công nghệ. Dựa trên thực tế, từ “thời kỳ đồ đá” đến “thời đại kỹ thuật số” hiện tại của nhân loại, chỉ có những khám phá và phát minh khoa học mới tiếp tục văn minh và phát triển xã hội của chúng ta. Trong khi đó, trên đây là một số trích dẫn mà Khoa học, Công nghệ hoặc Toán học hợp lý nhất không chứng minh được lý luận và lý thuyết của họ. Không phải để đổ lỗi cho những đối tượng này hoặc những người tin tưởng chúng, phần trên chỉ nhằm mục đích làm nổi bật những sự sụp đổ có thể có của “Khoa học và Công nghệ”.Người da đỏ cổ đại có phải là pháp sư không? Có một số sự thật tuyệt vời khiến tôi nghĩ rằng người Ấn Độ cổ đại có thể rất chu đáo và thông minh. Nhưng họ đã cho đi kiến thức của họ mà không có nhiều lịch sử cho nó, rằng tôi dường như họ là những Pháp sư không bao giờ tiết lộ bí mật đằng sau các mánh khóe của họ. Do đó, chúng ta không thể dễ dàng giải mã những ý nghĩa và thông điệp sâu sắc mà chúng đã để lại trong nhiều năm tới. Một số sự kiện được liệt kê dưới đây có thể thuyết phục bạn tin vào điều này Những ngôi đền khổng lồ được xây dựng cùng với tháp của nó Kumbh / Kalasam chứa đầy “Navadhanya” nghĩa là chín loại ngũ cốc Lúa mạch, Kê ngón tay, Kê Kodo, Kê đuôi chồn, Kê nhỏ, Lúa mạch đen, Ngựa gam, Ngô và Thóc và được phủ bằng hợp kim kim loại kết hợp của Vàng, Bạc, Đồng thau, Đồng , Lãnh đạoCấu trúc rộng rãi khổng lồ được xây dựng để chứa một số lượng lớn người trong các thảm họaLý do cất giữ các loại ngũ cốc lương thực trên đỉnh tòa nhà là để tránh lũ lụt, để chúng có thể được sử dụng làm hạt giống cho vụ thu hoạch tiếp theo Do đó, điều này đã giúp con người tồn tại ngay cả sau thiên tai để tái phát triển và kiếm sống. Các loại ngũ cốc được làm đầy lại bằng những hạt tươi, cứ 12 năm một lần trong một hoạt động được tiến hành dành riêng cho thứ được gọi là “Kudamuzhugu Vizha”Kalasam vàng là chất dẫn sóng điện từ tốt, hoạt động như dây dẫn sét bảo vệ các khu vực xung quanhVì vậy, nhìn chung không có tòa nhà nào được xây dựng cao hơn chiều cao của kalasam của ngôi đền. Ví dụ Kalasam được giữ ở độ cao 50 mét từ mặt đất, bao phủ xung quanh bán kính 100 mét như một bộ phận bảo vệ chống sétNgoài ra, nó được biết là thu hút các năng lượng tích cực từ bầu khí quyển và năng lượng vũ trụ bị ép xuống dưới do lực hấp dẫnNhững câu thần chú được nói ra và chuông rung lên, tạo ra một mô hình rung động trong bầu khí quyển sẽ tăng cường và tỏa ra nhiều năng lượng tích cực hơnSử dụng nhiều hoa và nhang là để dễ thở cho đám đông tụ tập thờ phượng đền làm bằng vàng / Kalasam Tín dụng hình ảnh lệ, người ta thường rắc nước nghệ trước cửa nhà rồi vẽ những chiếc rangolis đẹp mắt bằng bột gạo ở cửa ra vào để đón đã trở thành công việc hàng ngày của tất cả các hộ gia đình và do các bà làmNgười ta tin rằng điều này sẽ mang lại hạnh phúc và giàu có cho ngôi nhà. Đó là lý do tại sao nó được theo dõi hàng ngày ngay cả bây giờNgười ta tin rằng sẽ chào đón Lakshmi vào nhà - nữ thần giàu có của đạo HinduNhưng lý do khoa học đằng sau điều này là, nghệ sẽ hoạt động như một chất kháng khuẩn và làm sạch môi trường xung quanh nhàBột gạo được sử dụng cho rangoli là để nuôi kiến và hoạt động của các ngón tay, kích hoạt các động cơ của khớp tay, tăng cường hệ thần kinh và giúp cải thiện tư duy bên do việc vẽ liên quan đến kết nối các chấm và buổi sáng sớm, khi não bộ sảng khoái và không bị căng thẳng, hoạt động này thường giúp cải thiện khả năng sáng tạo và điều hòa lưu lượng máu trong cơ thể nữ Ấn Độ vẽ rangoli bằng bột gạo Tín dụng hình ảnh Hầu hết tất cả các loài động vật đã được và được tôn thờ như Chúa hoặc vận chuyển của bất kỳ vị thần nào và các lễ hội được tổ chức để cảm ơn đất mẹ về nguồn tài nguyên dồi dào mà thiên nhiên đã ban tặng cho chúng dụ, Vinayagar / Lord Ganesh phổ biến có hình dạng mặt voi và cơ thể ngườiKhi mọi thứ được kết nối với Đức Chúa Trời, mọi người sợ hãi và chắc chắn tuân theo các quy tắcDo đó, những hình thức thờ cúng này nhằm khuyến khích mọi người yêu thiên nhiên và không làm hại chúng bằng cách săn bắt hoặc phá hủyCó những lễ hội như “Thái Pongal","Naga panchami”Để nhấn mạnh và nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của thiên nhiên và đánh giá cao sự chung sống của chúng ta cùng với các sinh vật khácHầu hết các nghi lễ trong Ấn Độ giáo - lâu đời nhất cách sống của tất cả những người Ấn Độ cổ đại đều dựa trên lửa. Cũng giống như sinh vật sống, sinh vật không sống cũng được coi trọngNăm yếu tố cơ bản được gọi là "Panchaboothams", đó là Không khí, Nước, Lửa, Đất và Bầu trờiNgười ta tin rằng “Lửa” là sứ giả của Chúa, khi nó bay lên trên mặt đất hướng tới bầu trời, nơi Chúa được cho là hiện diện Mel-loham. Vì vậy, lửa được trồng vào mỗi dịp tốt lành để tìm kiếm sự ban phước của đấng toàn năngNồi lửa được gọi là "Homa kundam", nó được tạo thành từ những viên gạch chứa đầy phân bò hoặc chất thải cây cối được đốt cháy sử dụng bơ sữa trâu làm nhiên liệu để cúng lửaNghiên cứu đã chứng minh rằng quá trình này giải phóng oxy vào khí quyển và thanh lọc cơ thể, khi hít phải khói “Homam” / “Havan”, người ta có thể thực sự cảm nhận được sự sảng khoái này sau khi tham giaNgoài ra còn có một lễ hội để ăn mừng lửa - "Kaarthigai Deepam". Lễ hội được tổ chức bằng cách thắp đèn quanh nhà, rơi vào thời điểm mùa đông trong các tháng từ tháng XNUMX đến tháng XNUMX tháng “Kaarthigai” của lịch Tamil.Về mặt khoa học, nó giữ cho bầu không khí ấm áp, khi tất cả các hộ gia đình thắp sáng đèn và nó tránh được bóng tối. Vì vậy, hãy tránh bất kỳ động vật hoặc mầm bệnh có hại nào xâm nhập vào nhà, điều thường dễ xảy ra trong mùa đôngThậm chí ngày nay ở Tamilnadu, một ngọn đèn lớn được thắp sáng trên dãy núi “Thiruvannamalai” có thể được nhìn thấy từ mọi ngôi nhà trong thị trấnDo đó, Ấn Độ là vùng đất của những lễ hội tôn vinh những sáng tạo bất tử và phàm nhân giúp chúng ta kiếm sống tốt hơn và dễ dàng hơn Nhịn ăn trong “Ekadasi“. Đây là ngày thứ mười một của chu kỳ mặt trăng kể từ ngày trăng tròn và trăng nonĐiều này xảy ra hai lần một tháng, một lần trong mười lăm ngày. Các trưởng lão nói rằng một người nên kiêng ăn trong những ngày này bằng cách quan sát tầm quan trọng của thực phẩm và cảm tạ Đức Chúa Trời về điều ta có thể dâng Nước, Sữa và Trái cây cho Đức Chúa Trời, được gọi là “Prasadam” vào ngày ăn chayMột thực đơn cụ thể cũng được quy định vào ngày hôm sau, “Dwadasi” bao gồm rất nhiều giá trị y học do sự thống trị của các thành phần như Tiêu để tăng cường miễn dịch, Ngọt để cung cấp năng lượng tức thì, học đằng sau điều này là để cho hệ tiêu hóa được nghỉ ngơi. Trong khi ngủ, hầu như nhiều hệ thống trong cơ thể chúng ta có thể nghỉ ngơi, nhưng hệ tiêu hóa không bao giờ được nghỉ ngơi, trừ khi bạn dành một chút thời gian để thải biệt là vào ngày "Ekadasi", áp suất không khí trên trái đất thấp nhất, vì vậy đây là thời điểm tốt nhất để làm sạch hệ tiêu hóa và hệ thống ruột của chúng taKhi bạn ăn vào ngày hôm sau, thực đơn thực phẩm được thiết kế sao cho hệ thống của bạn có thể hấp thụ tối đa chất dinh dưỡng để cung cấp năng lượng cho bản thân. Vì vậy, bắt đầu từ những công việc hàng ngày, đến việc cúng bái trong chùa, kiêng ăn, tiến hành nghi lễ tại gia và thậm chí tổ chức lễ hội vui vẻ, có rất nhiều ý nghĩa khoa học, sâu sắc hơn người ta có thể tưởng sách tiếp tục mở rộng khi bạn cố gắng trả lời tất cả các câu hỏi về lý do tại sao những điều được cho là "Thần thoại / mê tín dị đoan" phải được tôn trọngNghiên cứu trước khi chôn vùi niềm tin / thực hành phong tục và nhân chủng học huyền bí Chỉ những tập quán và phong tục không phù hợp có mục đích được giải quyết nhưng vẫn được tuân theo là huyền thoại. Ví dụ, sau khi mua một chiếc xe mới, người ta trang trí nó bằng hoa, dán nghệ lên mặt trước của nó. Chanh được giữ bên dưới, phải được ép chặt xuống đất trước khi lăn ra lần đầu tiênPhong tục này đã được tuân theo từ xa xưa bởi vì các loài động vật được sử dụng để lái các phương tiện như xe bò, xe ngựa, Vì vậy, khi để chanh dưới chân trước khi lái xe đường dài, nó sẽ hoạt động như một chất khử trùng khi chân họ bị bầm tím khi lái xe xuyên rừngBôi bột nghệ và trang trí chúng bằng hoa cũng có những lý do y học tương tựNhưng đây là một thực tế không phù hợp ngày nay, vì phương tiện của chúng ta chạy bằng lốp xe. Do đó, không cần thiết phải làm theo những điều này bây giờVì vậy, đây có thể được gọi là "Huyền thoại / Mê tín" đối với thế giới ngày nayChúng ta không thể phủ nhận sự thật rằng việc khám phá ra lửa và phát minh ra bánh xe đã cách mạng hóa cuộc sống của nhân loại, đến nỗi chúng ta cũng phải đồng ý rằng Khoa học đã được pha trộn hay nói đúng hơn là cơ sở của thuyết tâm linh đóng một vai trò quan trọng trong Ấn Độ giáo, vốn là cách sống duy nhất ở Ấn Độ cổ đạiNhững gì người ta có thể quan sát và chứng minh sẽ trở thành sự thật, nhưng bằng chứng lại do con người tạo ra. Tất cả đều dựa trên những lý thuyết và sự kiện từ quá vì có những sự thật mà khoa học không thể giải thích được, bạn có thể gọi bản thân khoa học là một huyền thoại không?Một số thực hành tâm linh có cơ sở khoa học và khoa học bắt nguồn lịch sử của nó từ các linh mục tôn giáo, tâm linh, những người cũng là học giả cổ Ấn Độ, “Guru” là một thuật ngữ định nghĩa giáo viên là người truyền đạt kiến thức và trí tuệ cho ngôi trường của họ được gọi là “Gurukul”, rất giống với các trường nội trú ngày nay, để họ học các giá trị sống như vâng lời, độc lập, học tập thực tế và như vậyVì vậy, khi người Ấn Độ cổ đại coi giáo dục là một quá trình lành mạnh trong thế giới hiện đại, nó đã trở nên rất kênh và thu hẹp, chỉ thu được thông tin và kiến thể trong quá trình tiến hóa này, chúng ta đã đánh mất một số thông tin quý giá liên quan đến các thực hành và các sự kiện / tín ngưỡng phong tục vốn là một phần của lối sống Ấn Độ cho đến ngày nayVì vậy, chúng ta đừng loại bỏ những thực hành / niềm tin phong tục như vậy ở bất kỳ nơi nào trên thế giới vì vấn đề đó, trừ khi chúng ta đã thực hiện đủ nghiên cứu để chứng minh rằng thực hành đó là không phù sao chúng tôi được yêu cầu lẩm bẩm “Rama Rama” trong khi nó sáng dần lên? Tại sao chúng ta nên thực hiện một số phong tục nhất định? Cố gắng trả lời những câu hỏi nảy sinh như vậy sẽ giúp chúng ta biết thêm về khoa học ẩn chứa bên trong nóCần lưu ý rằng, gần đây Toán học Vệ Đà, Khoa học Vệ Đà và các nghiên cứu truyền thống khác như Yoga một hình thức tập thể dục, Siddha, Ayurveda đều đang trở lại phổ biến. Mọi người hiện đang học cách mở ra những sự thật cổ xưa và những sự thật quan trọng để nhận ra giá trị của nóNhư vậy, bổn phận của mọi người sinh ra trên trái đất là phải truyền lại mẹ thiên nhiên những tài sản vô giá về văn hóa, tri thức, truyền thuyết, phong tục, tập quán, truyền thống cùng với lịch sử của các thế hệ mai sau, để họ làm nên điều tốt nhất trong cuộc sống của họ
Mamonides, nhà thần học và đại sử gia Do Thái đã chứng minh một cách thỏa đáng rằng nền Phương Thuật của xứ Chaldée, khoa Huyền môn của Moise và của những đạo gia cổ xưa, đều hoàn toàn căn cứ trên một sự hiểu biết rộng rãi tham bác về nhiều ngành khoa học tự nhiên… Vua Solomon Mamonides, nhà thần học và đại sử gia Do Thái đã chứng minh một cách thỏa đáng rằng nền Phương Thuật của xứ Chaldée, khoa Huyền môn của Moise và của những đạo gia cổ xưa, đều hoàn toàn căn cứ trên một sự hiểu biết rộng rãi tham bác về nhiều ngành khoa học tự nhiên, ngày nay đã bị lãng quên và biệt tích. Những đạo gia thời cổ đã từng hiểu biết tường tận về tất cả những đặc tính và khả năng của các loài khoáng vật, thảo mộc và thú cầm, thông hiểu tinh vi các khoa vật lý và hóa học bí truyền cùng các khoa tâm lý cũng như Sinh lý học. Không ai còn lạ gì nghe nói các vị ấy, vốn đã từng được thụ huấn trong những thánh điện ẩn tàng của những đền thờ cổ, có thể làm được những việc nhiệm mầu mà thậm chí vào thời buổi khoa học tiến bộ ngày nay, người ta coi như những phép đang xem Khoa học huyền bí ở ấn độ thời cổ đại Những bậc thánh nhân sở đắc được khoa Huyền môn này thật rất hiếm. Các ngài không thể vượt quá cái giới hạn của những gì dành cho người thế gian được biết, và không một ai chí đến các ngài, có thể vượt qua lằn mức đã vạch sẵn do bàn tay mầu nhiệm của đấng Thiêng liêng. Người du khách đã từng gặp các bậc siêu nhân ấy trên bờ con sông Hằng linh thiêng, trong những ngôi đền cổ hoang tàn ở thành Thèbes, hoặc trong những thánh điện vắng lặng thâm u ở Luxor trên xứ cổ Ai Cập. Trong những nơi đền miếu cổ kính thâm nghiêm này, với những phù hiệu bí mật dị kỳ hấp dẫn sự chú ý của người du khách mà không ai đã từng thấu hiểu ý nghĩa diệu huyền, người ta cũngthường chạm trán và gặp gỡ các bậc siêu nhân ấy nhưng ít khi nhận biết được các ngài là ai. Những thiên hồi ký lịch sử cũng đã ghi chép sự xuất hiện của các ngài trong những cung điện lộng lẫy huy hoàng của các bậc vương giả, quí tộc Âu châu hồi thế kỷ trước. Người ta cũng lại gặp các ngài trên những vùng đồng cát hoang vu của bãi sa mạc Sahara, hoặc trong những hang động Elephanta của xứ Ấn Độ. Các ngài có thể hiện diện ở khắp nơi, nhưng chỉ để lộ tung tích đối với những người nào dành trọn cuộc đời xả thân cầu Đạo và không bỏ cuộc nửa chừng. Đang xem Khoa học huyền bí ở ấn độ thời cổ đại Có xứ nào trên thế giới xưa nay chưa từng thực hành khoa Phương Thuật? Có thời đại nào mà khoa ấy đã hoàn toàn bị lãng quên? Trong những tài liệu cổ xưa nhất mà chúng tôi đang nắm giữ là pho kinh Vệ đà và bộ Cổ Luật Manou của Ấn Độ, chúng tôi thấy có những nghi thức về huyền thuật tế lễ ceremonial magic đã từng được người Bà la môn chấp nhận và thực hành. Trong thời đại này, các xứ Tây Tạng, Nhật Bổn và Trung Hoa cũng đang truyền dạy những bí pháp được lưu truyền từ người Chaldée cổ xưa. Các đạo gia những xứ kể trên còn chứng minh cụ thể những điều họ truyền dạy sự tu trì, tinh luyện thể chất lẫn tinh thần, và sự thực hành vài phép khắc kỷ, sẽ giúp cho hành giả phát triển khả năng tuệ giác của Linh hồn. Nhờ kiểm chế được cái tinh thần bất diệt của chính mình, hành giả sở đắc được những quyền năng nhiệm mầu đối với những vong linh thấp kém. Ở phương Tây, chúng tôi nhận thấy Phương Thuật cũng đã có một dĩ vãng cổ xưa như ở phương Đông. Những thuật sĩ Druides của Anh quốc thời cổ đã từng thực hành khoa ấy trong những hang động thâm u của xứ họ, và sử gia Pline cũng đã ghi chép nhiều trang sử về sự minh triết của những nhà lãnh đạo chủng tộc Thanh Tề Celtes. Những thuật sĩ Semothees của xứ Gaule đã từng trình giải các khoa học vật lý cũng như khoa học tâm linh. Họ đã từng giảng dạy những bí mật của vũ trụ, sự vận hành điều hòa tuần tự của các thiên thể, sự hình thành quả địa cầu, và trên hết mọi sự, tính chất bất tử của Linh hồn. Trong những cụm rừng thiêng của xứ họ, các bậc cao đồ thường hội họp vào những giờ thanh vắng lúc nửa đêm để học về nguồn gốc, lịch trình tiến hóa và tương lai của con người. Họ không cần đèn lửa hay chất đốt nhân tạo để thắp sáng các đền thờ, vì đã có chị Hằng trinh bạch tỏa những ánh sáng màu bạc trên đầu họ; và những giáo sĩ bạch y của họ biết cách giao tiếp với nữ chúa cô đơn của nền trời xanh thẳm đầy sao’. Sử gia Pline. Phương Thuật hay Huyền Thuật Magie có một dĩ vãng cổ xưa cũng như con người. Người ta không thể biết được nó có từ bao giờ, cũng như không thể định chắc từ bao giờ con người đầu tiên sinh ra trên mặt đất. Vài tác giả cận đại muốn chứng tỏ rằng Zoroastre là nhà phát minh nền Phương Thuật bởi vì ngài là nhà sáng lập nên tôn giáo Magi. Nhưng các sử gia thời cổ đều đã chứng minh một cách quyết định rằng Zoroastre chỉ là một nhà cải tổ nền Phương Thuật của người Chaldée và cổ Ai Cập. HUYỀN THUẬT AI CẬP Một vị thần của người Ai Cập cổ Không ai còn chất vấn giá trị của Champollion như một nhà Ai Cập học uyên bác. Ông ta cho biết mọi sự đều chứng tỏ rằng người cổ Ai Cập vốn có quan niệm độc thần một cách sâu xa. Những kinh sách của giáo chủ Hermès, mà tính cách cổ xưa đắm chìm trong vực thẳm của thời gian, đã được nhà học giả này chứng minh là hoàn toàn chính xác trong từng chi tiết nhỏ nhặt. Học giả Đức Ennermoser cũng nói “Các sử gia, triết gia, đạo gia Hi Lạp thời cổ như Hérodote, Thalès, Parménides, Empedocles, Orphée và Pythagore đều đã từng đi sang Ai Cập và các xứ phương Đông để được thụ huấn và sở đắc các pháp bí truyền về Phương Thuật và khoa Huyền môn”. Cũng chính tại các xứ đó mà Moise đã đắc đạo, và đức Jésus đã trải qua thời kỳ niên thiếu của đời ngài. Thời xưa, đó là những nơi tựu họp những người tầm Đạo của bốn phương, trước khi đạo viện Alexandrie được thành lập. Ennermoser còn nói tiếp “Vì những lý do nào mà những tổ chức Huyền môn đó được ít người biết như vậy, trải qua hằng bao nhiêu thế hệ thời gian và được lưu truyền trong rất nhiều dân tộc khác nhau? Đó là do sự im lặng tuyệt đối của người Đạo đồ huyền môn, dưới sự cam kết phải giữ gìn bí mật. Một nguyên nhân khác có thể là do bởi sự tàn phá, hủy diệt và thất lạc của tất cả những sách vở về bút tích ghi chép giáo lý Huyền môn từ những thời kỳ cổ xưa nhất”. Những tác phẩm của Numa, gồm những bộ sách trứ thuật về triết học tự nhiên đã được tìm thấy trong ngôi mộ của ông, nhưng lại không được phép đem ra phổ biến vì người ta không muốn tiết lộ những điều bí mật thầm kín nhất của nền quốc giáo. Nguyên lão viện và diễn đàn dân chúng đã quyết định thiêu hủy những pho tác phẩm ấy ở giữa nơi công cộng. Tượng đá tại Luxor Ai Cập Phương Thuật được coi như một khoa học thiêng liêng đưa đến sự tham dự vào những đặc tính của Thượng Đế. Philo Juddoeus nói rằng “Phương Thuật hé mở cho ta thấy sự tác động huyền diệu của thiên nhiên và đưa đến sự chiêm ngưỡng những quyền năng và đặc tính của Trời”. Trong những thời kỳ về sau, nó đã bị lạm dụng và hạ thấp đến mức trở thành khoa phù thủy, làm cho nó bị người đời chán ghét và ghê tởm. Bởi vậy, chúng ta chỉ đề cập tới Phương Thuật của thời cổ xưa trong những thế hệ xa xăm của quá khứ, khi mà mọi tôn giáo chân chính đều căn cứ trên sự hiểu biết những quyền năng thần bí ẩn tàng trong thiên nhiên. Xem thêm Moise được truyền thụ sự hiểu biết về Phương Thuật do bà thái hậu xứ Ai Cập, mẹ của công chúa Thermuthis, đã cứu ông ta thoát khỏi nước lụt của sông Nile. Hoàng hậu Batria, vợ vua Pharaon, cũng là một nữ đạo đồ Huyền môn Ai Cập. Chính nhờ bà mà dân Do Thái có được nhà tiên tri và giáo chủ của họ tức thánh Moise vị này được truyền thụ tất cả minh triết của xứ Ai Cập, và có bản lĩnh siêu việt trong lời nói cũng như việc làm’. Justin Martyr thuật lại lời dạy của Troque Pompei cho biết rằng Joseph đã sở đắc được sự hiểu biết rộng rãi về ngành Phương Thuật trong thời gian học đạo với các vị đạo trưởng Ai Cập. Cổ nhân đã từng biết rõ về một vài khoa học nhiều hơn cả những gì mà các nhà bác học thời nay đã khám phá. Tuy họ còn do dự chưa muốn thú nhận, nhưng có nhiều nhà bác học đã nhìn nhận sự thật đó. Tiến sĩ Todd Thomson, một nhà khảo cứu về Khoa học Huyền bí tuyên bố rằng “Trình độ kiến thức khoa học trong một thời kỳ cổ xưa của xã hội loài người vốn cao hơn là thời nay sẵn sàng chấp nhận. Những kiến thức đó chỉ giới hạn trong các đền thờ, được che giấu kỹ đối với người thế gian phàm tục, và chỉ được truyền dạy cho giới tư tế, tăng lữ”. Bàn về Huyền môn Kabala, nhà bác học Đức, Franz Von Baader đã tuyên bố rằng; “Không những sự giải thoát tâm linh và minh triết chúng ta, mà chính khoa học của chúng ta cũng đều xuất xứ từ người Do Thái”. Nhưng tại sao lại không hoàn chỉnh câu ấy và nói cho độc giả biết từ đâu người Do Thái đã thu nhập được những kiến thức của họ? HUYỀN THUẬT DO THÁI Triết gia Origène của môn phái Alexandrie cho biết rằng thánh Moise, ngoài ra việc giảng dạy giáo lý công truyền, còn tiết lộ vài điều bí mật rất quan trọng của giáo lý Huyền môn cho 70 vị trưỡng lão, và dặn dò các vị này chỉ nên truyền lại cho những người nào họ xét thấy xứng đáng. Thánh Jérome có nêu danh những người Do Thái của Tiberias Lydda như là những vị đạo sư duy nhất có thể dạy phương pháp thần bí để diễn đạt những bí pháp Huyền môn nói trên. Sau cùng, Ennemoser có bày tỏ quan niệm chắc chắn rằng những tác phẩm của Dionysius Arcopagita thật sự căn cứ trên huyền môn Kabala của Do Thái’. Xét vì môn phái Gnostics, gồm những người Gia Tô đầu tiên chỉ là những môn sinh theo môn phái Essenes cổ Ai Cập dưới một cái tên mới, nên sự kiện trên không có gì đáng ngạc nhiên. Giáo sư Molitor đã tuyên dương uy tín của huyền môn Kabala như sau Ký tự của người Chaldee cổ “Thời đại vô nghĩa lý và nông cạn trong thần học cũng như trong các khoa học nay đã qua vì lẽ chủ nghĩa duy lý chỉ để lại có sự trống rỗng, dường như nay đã đến lúc để cho chúng ta lại lưu ý trực tiếp đến sự mặc khải huyền bí, nó vốn là cái nguồn sống cho sự giải thoát của mình. Khoa Huyền môn của xứ cổ Do Thái, vốn chứa đựng tất cả mọi sự bí nhiệm của xứ Do Thái ngày nay, và có nhiệm vụ xây dựng một nền thần học mới, căn cứ trên những nguyên tắc minh triết thâm sâu nhất, và đặt một nền tảng chắc chắn cho tất cả mọi khoa học lý tưởng. Nó sẽ mở một con đường mới đưa vào chốn mê cung tăm tối của những huyền thoại và bí pháp của những quốc gia cổ sơ . . . Chỉ có những truyền thống đó mới chứa đựng hệ thống huyền môn của những bậc tiên tri, hệ thống ấy nhà tiên tri Samuel không có sáng lập mà chỉ phục hồi trở lại. Mục đích của nó không gì khác hơn là hướng dẫn những môn đồ đi đến minh triết và kiến thức siêu việt, và khi họ đã được nhận xét là xứng đáng mới đưa họ bước vào cửa đạo huyền diệu thâm sâu hơn. Những giáo lý Huyền môn này cũng gồm cả ngành Phương Thuật, ngành này chia làm hai phái Bạch phái tức là phái thực hành Huyền thuật chân chính, cao cả, thiêng liêng, và Hắc phái chuyên thực hành khoa phù thủy, ma thuật, tức Bàn môn Tả đạo. Trong Bạch phái, hành giả cố gắng giao cảm tâm linh với thế giới bên ngoài để khám phá, học hỏi những điều huyền bí, ẩn tàng trong thiên nhiên. Trong phần Bạch Thuật này, y thực hành những việc tốt lành và hữu ích cho thế gian. Còn trong phần Hắc Thuật, tà đạo, hành giả cố gắng kiểm chế các vong linh và sai khiến âm binh trong cõi trung giới, do bởi quyền năng đó, y có thể làm mọi điều tà vạy và phản tự nhiên”. HUYỀN THUẬT ẤN ĐỘ Tất cả mọi giới đều nhìn nhận rằng tự cổ, phương Đông vốn là nguồn gốc của mọi ngành học thuật và là nơi phát sinh ra ánh sáng. Riêng về ngành Phương Thuật, ít người đã nghe nói đến nền Phương Thuật Ấn Độ vì ở xứ này khoa ấy không được phổ biến rộng rãi như ở các xứ khác của phương Đông. Đối với người Ấn Độ, khoa ấy xưa nay vẫn là một khoa pháp môn bí truyền, được giữ gìn còn cẩn mật hơn Huyền Thuật của các giới pháp sư hay tăng lữ Ai Cập. Khoa ấy được coi như thần thánh đến nỗi nó chỉ được thực hành trong những trường hợp khẩn cấp vì ích lợi công cộng. Ở Ấn Độ, Phương Thuật được đặt lên cao hơn cả vấn đề tôn giáo vì nó được coi như là một khoa học thiêng liêng. Những vị đạo sư Ai Cập, tuy có đạo hạnh tinh thâm, cũng không thể so sánh với những đạo sĩ khổ hạnh Ấn Độ về mức độ thánh thiện của đời sống tâm linh cao cả hay về quyền phép thần thông mà họ thâu hoạch được bằng sự dày công tu luyện. Những người từng biết rõ đời sống của họ còn kính phục họ hơn cả những nhà thuật sĩ xứ Chaldée. Khước từ tất cả mọi tiện nghi của đời sống, họ vào ở chốn rừng sâu và sống cuộc đời u tịch cô liêu của nhà tu ẩn dật, trong khi các vị đạo sư Ai Cập ít nhất cũng còn có đời sống tập thể trong các đền thờ. Tuy rằng dư luận người đời vẫn khinh miệt tất cả những kẻ thực hành những môn ảo thuật, bói toán, tiên tri . . Nhưng họ vẫn đề cao các nhà đạo sĩ Ấn Độ như những bậc dị nhân nắm giữ những bí mật thâm sâu thần diệu nhất về thuật chữa bịnh cứu khổ cho người đời. Trong những đạo viện ở Ấn Độ, còn được giữ gìn nhiều tài liệu ghi chép những trường hợp chữa bịnh một cách nhiệm mầu làm bằng chứng về những quyền năng và minh triết của họ. Những vị đạo sĩ khổ hạnh ấy phải chăng là những nhà khai sáng nền Phương Thuật Ấn Độ hay chỉ là những người thừa kế pháp môn bí truyền được lưu truyền lại cho họ từ những bậc Thánh sư của thời thái cổ? Những học giả các thế hệ sau này cũng không giải đáp dứt khoát câu hỏi đó mà chỉ coi nó như là một vấn đề phiếm luận. Một tác giả cận đại nói rằng các vị đạo sĩ ấy từng lưu tâm đến việc giáo dục các giới hậu sinh và gieo rắc trong giới thanh niên những lý tưởng tâm linh cao cả. Những giáo lý của các vị ấy truyền thụ cho đời mà các sử gia đã từng ghi chép, chứng tỏ rằng các vị ấy rất tinh thông lão luyện về các môn triết học, đạo lý siêu hình, thiên văn, lý số, y thuật, tôn giáo . . Các vị ấy vẫn giữ phong độ cao khiết đối với những bậc đế vương có uy quyền thế lực to lớn nhất, mà họ không bao giờ hạ mình đến viếng thăm hay cầu xin ân huệ. Nếu những bậc vua chúa muốn hỏi han ý kiến các nhà đạo sĩ thì nhà vua phải đích thân tìm đến hoặc cho sứ giả đi mời. Đối với họ, không có một điều bí mật nào trong các loài khoáng vật hay thảo mộc mà họ không biết rõ. Họ đã khảo sát tường tận mọi điều huyền bí của thiên nhiên, mọi kiến thức về các ngành học thuật sinh lý và tâm linh họ đều nắm vững, kết quả của họ là đạt đến sự thông suốt nền khoa học huyền bí mà ngày nay người ta gọi là Phương Thuật hay Huyền Thuật Magie. Xem thêm Giáo sĩ Samuel Mateer của Hội Truyền giáo Luân Đôn, viết về những phù phép phương thuật của những bộ lạc thổ dân vùng Travancore miền Nam Ấn Độ cho biết ông có nắm được một bộ sách viết tay rất cổ về phương thuật và phù chú bí mật bằng chữ Malayalam, trong đó chỉ cách thức thực hiện nhiều pháp thuật với nhiều mục đích khác nhau. Ông có chép lại trong quyển sách của ông vài loại bùa với những hình vẽ và biểu tượng huyền thuật. Trong số đó, chúng tôi nhận thấy một hình vẽ với lời chỉ dẫn sau đây “Để trị chứng bịnh tà nhập và làm cho bịnh nhân hết run rẩy, hãy vẽ hình ảnh này trên một loại cây có mũ và đóng một cây đinh trên đó. Cơn run rẩy sẽ dứt tuyệt”. Còn hình ảnh kia chính là hình vẽ “Ấn của vua Solomon”, tức hai hình tam giác tréo lên nhau của huyền môn Kabala. Vậy hình biểu tượng này là do người Ấn Độ thâu nhập của huyền môn Do Thái hay là của người Do Thái học được của người Ấn Độ do di sản truyền lại từ vua Solomon? Post navigation
Ở Ấn Độ, Trung Quốc, và Ai Cập cổ đại hàng nghìn năm về trước, các nhà khảo cổ đã tìm thấy dấu vết của một cuộc hành trình tương tự nhau. Tất cả những nền văn hóa này đều tìm kiếm cách thức biến chì hoặc các chất liệu khác thành vàng, đồng thời đạt được sự bất tử thông qua việc điều khiển và làm thuần tịnh vật chất. Ảnh Shutterstock Mặc dù mục đích và quy trình là tương tự nhau, nhưng giả kim thuật tại những đất nước này dường như đã xuất hiện một cách độc lập. “Vào thế kỷ 2 SCN, các thợ thủ công người Ai Cập ở thành Alexandria là những nhà giả kim đầu tiên từng thử nghiệm biến kim loại thành vàng. Hầu như đồng thời và độc lập, các Đạo sĩ không phải nhà giả kim thuần túy mà là những người tu luyện trong tôn giáo coi vàng như một loại thần dược nên họ cũng tìm cách sản xuất nó, không phải để giàu sang, mà để đạt được sự trường sinh bất tử”, nhà châm cứu, TS Joseph P. Hou, đã viết trong cuốn sách “Kỹ thuật trường thọ và mạnh khỏe”. Cố sử gia, TS Allen G. Debus 1926–2009 cũng từng viết về sự xuất hiện gần như đồng thời và độc lập của giả kim thuật tại các nền văn hóa khác nhau. Ông Debus nhận bằng Tiến sỹ tại Đại học Harvard và trở nên nổi tiếng như một sử gia khoa học. Trong cuốn sách “Giả kim thuật và Hóa học hiện đại thời kỳ đầu” của mình, ông đã viết rằng giả kim thuật đã xuất hiện độc lập không chỉ ở Ai Cập và Trung Quốc, mà còn ở Ấn Độ. Tuy giả kim thuật ở Trung Quốc và Ấn Độ đã cho thấy một số ảnh hưởng lẫn nhau vào một thời kỳ sau này, nhưng TS Debus tin rằng cả hai đã xuất hiện một cách độc lập. Bố cục một khóa giả kim thuật tại trường Đại học Hawaii đã định nghĩa kỹ thuật cổ đại này như sau “Giả kim thuật là một nghệ thuật vũ trụ trong đó các các bộ phận của vũ trụ—các bộ phận khoáng chất và động vật—có thể được giải phóng khỏi sự kiềm tỏa của thời gian để đạt được một trạng thái hoàn hảo vàng trong trường hợp khoáng chất, và sự trường thọ, bất tử, sự chuộc tội trong trường hợp con người. Những sự biến đổi như vậy có thể xuất hiện nhờ sử dụng một loại vật chất có thực như hòn đá phù thủy’ hay thần dược; mặt khác là thông qua các kiến thức mang tính hé mở hay sự giác ngộ tinh thần”. Trong các văn tự cổ, Hòn đá phù thủy thường được mô tả là có màu đỏ, trong suốt giống thuỷ tinh, nặng hơn vàng, tan trong bất kì dung dịch nào, nhưng không cháy trong lửa, theo Wiki Giả kim thuật có thể đã xuất hiện trong nhiều nền văn hóa do có mối liên hệ với các lý thuyết phổ quát, TS Debus nhận định. Lấy ví dụ, những lý thuyết này có mối liên hệ với khái niệm bất tử và sự tương quan lúc đầu giữa vàng và trạng thái hoàn mỹ. TS Debus đã phác thảo một số điểm tương đồng và khác biệt trong các nền văn hóa. Giả kim thuật của người Ai Cập không có mối liên hệ chặt chẽ với tôn giáo như của người Trung Quốc và của người Ấn Độ. Ở Ai Cập, giả kim thuật mang nhiều tính thực tế hơn là tính huyền bí. Giả kim thuật của người Trung Quốc và Hy Lạp có một số khía cạnh tương đồng. Nguồn gốc của giả kim thuật ở Hy Lạp chưa được biết rõ, nhưng một giả thuyết cho rằng nó xuất phát từ Ai Cập. Cả người Trung Quốc và người Hy Lạp đều bao hàm yếu tố hít thở [trong quy trình giả kim]. Các nhà giả kim người Hy Lạp sử dụng các nhân tố đất, nước, gió, lửa. Tương tự, giả kim thuật ở Trung Quốc dựa trên nguyên lý ngũ hành, với 5 nhân tố kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Giả kim thuật của Trung Quốc hướng tới một sự cân bằng giữa âm và dương âm và dương có liên hệ với nữ giới và nam giới, địa và thiên, và các cặp nhân tố đối nghịch tương tự như vậy. Lấy ví dụ, các nhà giả kim người Trung Quốc đã trộn diêm tiêu, tương trưng cho âm, và lưu huỳnh, tượng trưng cho dương, thành một hỗn hợp được biết đến ngày nay là thuốc súng. Bức tranh Bành Tổ nấu thuốc, ông được cho là người có tuổi thọ cao nhất trong lịch sử Trung Quốc Người Hy Lạp cũng nhìn nhận sự trái ngược là một yếu tố quan trọng. Họ thao tác với các nhân tố trái ngược nhau như nóng-lạnh, ẩm-khô, đất-khí, và nước-lửa. Đối với việc phát hiện ra thuốc súng từng được sử dụng làm pháo hoa từ rất lâu trước khi dùng trong vũ khí, sự quan sát các phản ứng hóa học trong lĩnh vực giả kim đã góp phần rất lớn trong việc đặt nền tảng cho ngành hóa học hiện đại. Rất nhiều các kỹ giả kim thuật rốt cuộc đã trở thành bí truyền và mang màu sắc huyền bí. Đại học Hawaii đưa ra ví dụ về những câu đố của các nhà giả kim “Con sói xám cắn xé nhà vua, sau đó nó bị chôn trên giàn thiêu, nuốt chửng con sói và hồi sinh nhà vua”. Câu này có thể được diễn giải như sau “Tách vàng từ hợp kim bằng cách hớt bỏ các sunfua kim loại nhẹ hơn và nướng các hợp kim vàng antimon cho tới khi antimon bay hơi hết, còn lại là vàng nguyên chất”. Bài viết của trường đã lưu ý rằng thông điệp giả kim huyền bí không hề huyền hoặc hơn so với các biệt ngữ hóa học hiện đại; lấy ví dụ, “tiến hành phản ứng dehydrohalogenate hóa các dihalides lân cận với i-ôn anit để cung cấp các alkyne”. Các nhà khoa học hiện đại, như Isaac Newton, Robert Boyle, và John Locke, cũng là các nhà giả kim. Bill Newman, một nhà sử học tại Đại học Indiana, đã nghiên cứu các công thức được mã hóa bí mật của Newton. Trong trao đổi với kênh NOVA, ông nói “Nếu bạn quan sát các quyển ghi chú thực nghiệm mà Newton lưu giữ trong khoảng 30 năm, sẽ thật khó để không đi đến kết luận rằng ông đã từng cố gắng tạo ra hòn đá phù thủy”. Nguồn DKN
khoa học huyền bí ở ấn độ thời cổ đại